Qũy Học bổng CHS Nguyễn Duy Hiệu - Điện Bàn, khóa 83-86

Hình ảnh hoạt động

Danh sách các lớp khóa 8386
//http://ndh8386.org/forum/index.php

  Tin chi tiết
 

    NGUYỄN DU – NHÀ SƯ CHÍ HIÊN (phan 1)


Khi tướng Tây Sơn, Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Đăng Tiến tước Quản Vũ Hầu tức Cai Gia, tức Nguyễn Đại Lang, quyền trấn Thủ Thái Nguyên, thay anh Nguyễn Du, Thượng Thư Bộ Lại Nguyễn Khản khởi nghĩa chống Tây Sơn tại Tư Nông, Thái Nguyên, chiến đấu với chỉ huy Giáo bị thua trận, bị bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm. Nhậm trọng khí khái, tha chết và cho tùy ý đi đâu thì đi. Nguyễn Đăng Tiến cùng Nguyễn Quýnh, Nguyễn Du thoát chết lên đường đi Vân Nam. Đến nơi Nguyễn Du bị bệnh ba tháng xuân, sau khi khỏi bệnh Nguyễn Du muốn thoát vòng trần tục, thành nhà sư Chí Hiên. Cả ba tiếp tục lên đường và chia tay tại  Liễu Châu. Nguyễn Du hẹn gặp lại Nguyễn Đại Lang tại Trung Châu.

Nguyễn Đại Lang về  quê hương cũ  ở Quế Lâm. Nguyễn Sĩ Hữu về « làm chủ » Hồng Lĩnh. Nguyễn Du không về Nam Ninh gặp vua Lê Chiêu Thống  mà lên thuyền theo sông Liễu Giang, Quảng Tây  rồi đi ngược lên Động Đình Hồ đến Hán Khẩu theo thuyền sông  Hán đến Trường An.

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, ký tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương Ký. Nguyễn Du làm thế nào, không tiền mà đi giang hồ Giang Nam, Giang Bắc, đi Trường An, Hàng Châu. Đội mũ vàng, đi  muôn dậm, lại đọc kinh Kim Cương nghìn lượt trong ba năm ? Bài  viết này đi vào từng bài thơ, những trang nhật ký của Nguyễn Du, ba năm giang hồ Trung Quốc, thoát vòng trần tục, theo gương Lý Bạch tuổi trẻđi chu du khắp Trung Nguyên, và dừng lại ở Hàng Châu, miếu Nhạc Phi nơi hò hẹn cùng Nguyễn Đại Lang. Nơi đây Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ Pháo cũng bên bờ Tây Hồ, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà Thượng từng tu hành. Tại Hàng Châu năm 1790, 24 tuổi Nguyễn Du có được bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du thôi đọc Kinh Kim Cương vì “Lòng ta thường định chẳng xa thiền.”Từ đây Kim Vân Kiều  trở thành quyển sách bên mình Nguyễn Du và miệt mài diễn ca thành thơ nôm để mua vui  cũng được một vài trống canh.

Nhà sư Chí Hiên đầu đội mũ vàng nhà sư (Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế). Các chú thích ông Lê Thước trong Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, cho rằng mũ hoàng quang là mũ đạo sĩ, điều này không đúng, vì đạo sĩ mặc áo trắng, đội nón trắng. Nho sĩ mặc áo xanh biển, thì cũng đội mũ xanh, nhà sư mặc áo vàng, đội mũ vàng, hay mũ nâu. Hoàng quan do câu : Hoàng quan qui cố hương của Văn Thiên Trường, khi bị vua Mông Cổ bắt, muốn chiêu dụ ra làm quan, ông  từ chối chỉ muốn thoát vòng trần tục về quê hương qui ẩn.  Xem phim bộ Hương Cảng, Trung Quốc, Đài Loan ngày nay, họ nghiên cứu kỹ quần áo cách ăn mặc ngày xưa, chẳng thấy có một đạo sĩ nào mặc đồ trắng, đội nón vàng cả. Nguyễn Du đi 10 000 dậm. Một dậm khoảng nữa cây số, Nguyễn Du đi khoảng 5000km, đường từ Vân Nam đến Liễu Châu đi Trường An, xuống Hàng Châu, đểđi giang hồ khoảng đường này Nguyễn Du phải mất 3 năm.Đường xá ở Trung Quốc ngày xưa, cứ 10 dặm hoặc 4,5 dặm đặt một sở, gọi là “đường”, có binh lính canh gác, mỗi đường có ba tòa báo hiệu lửa, xây bằng gạch trên nhọn dưới vuông, giữa trống, khi có sự cấp báo, thì đốt lửa để khói bốc lên làm hiệu, tàn trắng như tuyết, tung bay khắp,cả, gọi là hỏa đài.(Theo Ngô Thời Nhậm, Thơ, Văn Học. Hà Nội 1986. tr 149.) Đường thủy có kinh Đại Vận Hàđào thời nhà Tùy- Đường chạy từ Bắc Kinh tới Hàng Châu, nối liền các con sông. Các sứđoàn nước ta đi Bắc Kinh đi nhiều đoạn bằng đường sông. Trên sông tấp nập ghe thuyền buôn bán.  Đi nhờ các thuyền buôn, nhà sư đi không ai lấy tiền, lại cúng dường món chay (Hết ở ăn nhờ biển đến sông). Hành trang trong túi vải là quyển Kinh Kim Cương Chú Giải của Lê Quý Đôn. Quyển sách nhà chùa Thăng Long khắc bản ấn hành được giới sĩ phu Bắc Hà thời bấy giờ yêu chuộng làm kinh gối đầu. Tam Nguyên Bảng Nhản Lê Quý Đôn là một trí thức lớn nước ta, hàng trăm năm mới có một người như thế, chết được chúa Trịnh để tang cho bãi chầu ba ngày, thì một thanh niên 18, 20 tuổi, mang bên mình cuốn sách của « thần tượng » mình là chuyện thường tình. Nhà sư mang cả thanh trường kiếm trong túi vải trên lưng, như truyền thống các nhà sư Thiếu Lâm xuống núi hành đạo, cứu đời chống bọn cướp bóc, các thương thuyền càng thêm kính nể. Khi thương thuyền có người đau ốm, hay việc trắc trở qua ghềnh thác, chủ thuyền nhờ nhà sư làm lễ tụng cho bài kinh cầu an. Khi mua hàng thì nhà sưở Trung Quốc cũng làm lễ rảy nước cành dương cho mua may bán đắt.. Đi một đoạn đường gặp một ngôi chùa, nhà sư từ giả thương thuyền đi ngao du thắng cảnh, tối về chùa tụng kinh Kim Cương làm công quả, bữa ăn rau đậu nhà chùa thết đãi không sợ đói.(Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt. Bài Phân Kinh Thạch Đài). Mỗi ngày tụng một lần, nghìn lượt, một năm 365 ngày nhân ba, cộng với thời gian ba tháng bị bệnh. Nguyễn Du đi giang hồ trong áo mũ nhà sư trong ba năm. 1788, 1789,1790. Đến ở một ngôi chùa khi đã chán cảnh rồi thì lại lên đường đi tiếp, khi đi theo sông, khi đi  nhờ thuyền. Nhắm hướng Trường An thẳng tới.  Trường An là kinh đô các triều đại Hán, Tùy, Đường, đến Trường An là một mơ ước của các sĩ phu khiđọc sách sử Trung Quốc ngày xưa.

Bài Mạn hứng I. Nguyễn Du viết: Thân thế trăm năm phó mặc gió bụi, hết ăn nhờ miền sông lại đến miền biển. Đã lâu rồi không còn hào hứng với giấc mộng gác vàng (ra làm quan), hư danh chưa buông tha cho đến khi bạc đầu. Ba tháng xuân ốm bệnh nghèo không có thuốc ( Nguyễn Du ở ba tháng ở Vân Nam, trong nhà một thầy thuốc (Trúc thưa vườn thuốc lạnh hơi xuân. Sơn Cư mạn hứng). Một kiếp phù sinh có thân nên có mối lo. Ở xa cách quê hương ngàn dậm lòng nhớ quê nhà. Nếu Nguyễn Du đang ở Quỳnh Hải hay Hà Tĩnh không thể viết mình nhớ quê hương ngàn dậm được. Thẹn cùng anh hàng xóm có ngựa xe rong. Chắc Nguyễn Du đã bán con ngựa cỡi đi từ Thái Nguyên để trả tiền thuốc ba tháng bệnh thì mới còn sống sót mà viết Truyện Kiều, đi chơi bằng thuyền “miễn phí”  mà mang ngựa theo thì hơi khó, lại phải có tiểu đồngđi theo lo dẫn ngựa ăn cỏ như  Kim Trọng, Theo sau có một vài thằng con con, chăm sóc cho ngựa trong lúc Chàng Vương quen mặt ra chào, Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa. Lên thuyền màđem theo ngựa chẳng ai cho đi không ! Tại Trường An trong khu vực chùa Đại Nhạn, tôi thấy  có một khu bảo tàng sưu tập các trụ cột ngựa, rất đẹp,  chạm khắc rất phong phú, chứng tỏ các nhà giàu Trung Quốc ngày xưa có ai cũng có ngựa, và trước nhàtrụ cột ngựa  cho khách tới viếng thăm. Sau khi gặp lại Nguyễn Đại Lang tại Trung Châu, có lẽ được ông anh kết nghĩa chu cấp, thơĐoàn Nguyễn Tuấn tảcông tửNguyễn Du tại Hoàng Châu, Hà Bắc đi xe song mã  “đời mới “ chạy về Nam vàở lữ quán “sang trọng” như phái đoàn đi sứ Tây Sơn.

MẠN HỨNG I

Trăm năm thân thế mặc phong trần,

Hết ở ăn nhờ biển đến sông.

Giấc mộng gác vàng thôi cạn hứng,

Bạc đầu chưa bỏ được hư danh.

Ba xuân ốm bệnh nghèo không thuốc,

Một kiếp phù sinh hoại tấm thân.

Ngàn dậm quê hương vời vợi nhớ,

Thẹn cùng hàng xóm ngựa xe rong.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

MẠN HỨNG I

Bách niên thân thế ủy phong trần,

Lữ thực giang tân, lại hải tân.

Cao hứng cửu vô hoàng các mộng,

Hư danh vị phóng bạc đầu nhân.

Tam xuân tích bệnh bần vô dược,

Táp tải phù sinh hoạn hữu thân.

Dao ức gia hương thiên lý ngoại,

Trạch xa đoạn mã qui đông lân.

Chú thích:

Hoàng các mộng: mộng gác vàng, mộng làm quan to. Cửa công đường thừa tướng thường sơn màu vàng ,  tích Đỗ Như Hối làm Tể tướng đời nhà Đường ba chục năm, lo cho dân nước. Hoàng các tam thập niên, thanh phong tiên vạn cổ. Gác vàng ba mươi năm mà thơm bia muôn đời.

Hoạn hữu thân: mối lo có thân. Lão Tử nói : Ta có mối lo lớn vì ta có thân.

Trạch xa đoạn mã: xe ngắn ngựa đi đủng đỉnh. Ý nói an nhàn ở nơi làng mạc, không cầu  công danh.

BÀI MẠN HỨNG II Nguyễn Du viết: Chân không bén rễ mặc gió bay như ngọn cỏ bồng. Một chiếc túi rỗng không đi hết Giang Nam lại Giang Bắc , Trung Quốc. Cuộc đời trăm năm, không đi đóđây chẳng lẽ nằm nhà chết xác với văn chương trong sách vỡ. Tấm thân sáu thước sống lênh đênh trong vòng trời đất. Đội mũ vàng nhà sưđi muôn dậm, từ sáng cho đến khi trời xế chiều.  Vì Tây Sơn ra Bắc nên phải lưu lạc, nhiều lo lắng đến bạc tóc. Bao nhiêu chuyện kim cổ các nơi đãđi qua gợi bao chuyện đau lòng. Nguyễn Du đãđi qua sông Mịch Giang nơi Khuất Nguyên trầm mình còn để lại lời thơ Ly Tao bất tử, nơi Văn Thiên Tường  tử tiết chống nhà Nguyên Mông Cổ mà tấm lòng son còn lưu lại với sử xanh, qua Lỗi Dương mộ Đỗ Phủ, qua Thanh Liên quê hương Lý Bạch.. Mỗi một nơi đều có vết chân người xưa, dấu tích những danh nhân Trung Quốc mà Nguyễn Du chỉ biết trên sách sử bao nhiêu chuyện vui buồn.. Chỉ có dãy núi xanh là  xanh mãi trong nắng xế hồng.

MẠN HỨNG II

Không rễ chân như ngọn cỏ bồng,

Giang Nam, Giang Bắc túi tiền không.

Văn chương nát với trăm năm đó,

Trời đất nổi trôi sáu thước thân.

Muôn dặm mũ vàng trời xế bóng,

Một đầu tóc bạc gió Tây tung.

Gợi bao nhiêu chuyện buồn kim cổ,

Non cũ xanh xanh nắng xế hồng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

MẠN HỨNG II

Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng.

Giang Nam, Giang Bắc nhất nang không.

Bách niên cùng tử văn chương lý,

Lục xích phù sinh thiên địa trung.

Vạn lý hoàng quan tươngmộ cảnh,

Nhất đầu bạch phát tản tây phong.

Vô cùng kim cổ thương tâm xứ,

Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng.

Chú thích:

Giang Nam: vùng phía Nam sông Trường Giang (Dương Tử) Thượng Hải, Giang Tô, An Huy.  Giang Bắc: vùng phía Bắc sông Dương Tử.

Lục xích: sáu thước, thước ngày xưa ngắn, sáu thước tương đương 1m 65  ngày nay.

Vạn lý: ngàn dậm, Vạn Lý Trường Thành dài khoảng 5000km.

Hoàng quan:Văn Thiên Tường, trạng nguyên, tể tướng nhà Tống, đi sứ sang Nguyên để cầu hoà, bị thừa tướng nhà Nguyên giữ lại, sai Toa Đô dụ dỗ, ông không chịu khuất phục. Thiên Tường đóng quân ở núi Ngũ Pha, Trương Hoàng Phạm đến đánh lén bắt được, đưa về giam ở Yên Kinh. Vua Nguyên giữ Văn Thiên Tường ở Yên Kinh ba năm, sai Vương Tích Ông dụ dỗ. Thiên Tường nói: “Nguyện được nhà vua khoan thải, cho đội mũ vàng trở về cố hương” (hoàng quan qui cố hương).  Đội mũ vàng là dứt bỏ mọi danh vọng. Nguyễn Du “ước gì muốn thoát vòng trần tục”, đội mũ vàng nhà sưđi giang hồ khắp nơi.

Trong Bắc Hành Tạp Lục có bài thơ  Vọng Tương Sơn Tự, có câu Cô Chu giang thượng bằng lan xứ, trên chiếc thuyền côđơn, đứng dựa mạn thuyền ngắm cảnh. Nguyễn Du đi một mình hay đi với sứđoàn 27 người, mà đứng ngắm cảnh chùa một mình. Phan Huy Ích trong Tinh Sà Ký Hành tr 33 tả: “ Thuyền sứ qua các phủ thành, quan sở tại dựng thủy đình ở bến sông, bố trí cả nhạc cụ và yến tiệc. Mỗi đêm khi qua các đình bên sông thì ở đó thắp đèn đuốc sáng rực, ánh sáng rọi lên tận trăng sao.” Nếu bài thơ này làm năm 1813 lúc đi sứ thì Nguyễn Du không thểở trên một chiếc thuyền côđơn ngắm cảnh chùa một mình. Do đó tôi cho rằng bài này Nguyễn Du viết năm 1788 khi đi giang hồ một mình qua chùa Tương Sơn ở Quảng Tây. Chùa Tương Sơn là nơi trụ trì cuối cùng và nhập diệt của nhà sư Trần Huyền Trang (Tam Tạng) đời Đường sang Ấn Độ thỉnh kinh. Sinh năm 602 ở Hồ Nam. Huyền Trang rời Trường An năm 25 tuổi (năm 627) với mục đích đến tận nguồn gốc xứ Phật để sưu tập kinh điển, vượt qua bao gian khổđi theo con đường tơ lụa, qua sa mạc Gobie qua Bactriane (Afghanistan) vượt đèo Hindukush qua thung lũng Indus đến Cachemire rồi từđó đến đồng bằng sông Hằng (Gange). Rồi trong mười năm đi tìm thầy học đạo, gặp gỡ các nhà sư uyên bác Phật Giáo đương thời. Hai năm học ở Trường Đại Học Phật Giáo Nalanda (Bihar). Đến từng nơi Trần Huyền Trang đã viết ký sự những nơi đã qua. Năm 645, nhà sư Huyền Trang trở về Trường An, và tổ chức dịch thuật Tam Tạng Kinh Điển. Năm 652 Vua Đường Cao Tông cho xây chùa Đại Nhạn để chứa kinh điển và chùa Tiểu Nhạn. Tôi đã đến Trường An thăm ngôi tháp Đại Nhạn cao 64 m nơi chứa kinh điển . Ngày xưa ngài Huyền Trang đã chất trên 20 con ngựa để mang về, chất trong tháp, rồi cà đời bao nhiêu công phu tổ chức dịch thuật, in ấn.

Cổ Phật Vô Lượng người đời Đường, chân thân còn để trên núi Tương Sơn, chân thân một đêm lửa cháy hết. Ngôi chùa cổ ngàn năm phủ bóng mây chiều. Núi đèo Ngũ Lĩnh có nhiều khí sắc. Toàn Châu thành quách nằm trong gió bụi. Đứng dựa mạn thuyền côđơn trên sông ngắm cảnh. Một dãy cây tùng, cây sam bóng chiều nhuốm nửa.

TRÔNG CHÙA TƯƠNG SƠN

Cổ Phật Vô Lường người  thịnh Đường,

Nơi Tương Sơn Tự thân vô thường.

Châu thân một tối đà thiêu hóa,

Chùa cũ ngàn năm mây vấn vương.

Ngũ Lĩnh núi non nhiều khí sắc,

Toàn Châu thành quách bụi phong sương.

Đầu sông tựa mạn thuyền con ngắm,

Nửa  dãy tùng sam bóng tối buông.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt.

VỌNG TƯƠNG SƠN TỰ

Cổ Phật Vô Lường Đường thế nhân,

Tương Sơn tự lý hữu chân thân.

Chân thân nhất dạ tẫn viêm hỏa,

Cổ tự thiên nhiên không mộ vân.

Ngũ Lĩnh phong loan đa khí sắc ,

Toàn Châu thành quách tại phong trần?

Cô chu giang thượng bằng lan xứ

Nhất đái tùng sam bán tịch huân.

Chú Thích: Cổ Phật Vô Lường, tôn hiệu  Trần Huyền Trang.

Tương Sơn: núi tỉnh Quảng Tây.

Chân thân: thân thể người tu hành đắc đạo.

Ngũ Lĩnh: Chỉ năm đèo lớn nằm trên ngã đường, vượt qua dãy núi dài phía Nam Trường Giang, xuống miền Nam.

Toàn Châu: là Toàn Huyện, phía Bắc Tỉnh Quảng Tây. Thượng lưu sông Tương.

Tùng Sam: cây sam giống cây Tùng quả nhỏ.

Rời Toàn Châu, Nguyễn Du đi qua Hồ Động Đình, Trường Sa đến Hán Dương. Đoạn đường này trùng hợp với đoạn đường đi sứ.  So với thơ trên đường đi sứ của Phan Huy Ích, Lê QuýĐôn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô Thời Nhiệm, số thơ Nguyễn Du làm trên đoạn đường này khá nhiều, gấp bội, có thể có một số bài Nguyễn Du đã làm từ năm 1789, 1790 như những bài Nguyễn Du đi thăm làng Thanh Liên quê hương Lý Bạch, thăm quê Đỗ Phủ.. Từ Hán Dương, Nguyễn Du đi theo sông Giang Hán đến Trường An. Các đoàn đi sứ theo hướng khác đến Bắc Kinh

Đài đá chia kinh nằm nơi đâu ?  Năm 582 nhà Tùy , vua Lương Võ Đế xây kinh đôĐại Hưng, sau đổi tên Tràng An.  Vua  Lương Võ Đếđược tổ Thiền Tông thứ nhất. Cũng là tổ thứ 28 kể từ ngài Ca Diếp,  Bồ ĐềĐạt Ma từẤn Độ sang truyền báĐạo Phật. Đạo Phật đã truyền sang Trung Quốc từ thế kỷ thứ hai đời Tôn Quyền, Đông Ngô thời Tam Quốc. Vì kinh điển không đầy đủ nên đời Đường, Trần Huyền Trang mới quyết chí sang Ấn Độ du học và thỉnh kinh. Sau 17 năm du hành. Trần Huyền Trang mang về được 150 xá lợi Phật,  8 tượng Phật, 224 bộ kinh Đại Thừa, 192 bộ luận đại thừa, 15 bản của phái Thượng Tọa, 15 bản của phái Đại chúng, 15 bản của phái Chánh Lượng, 22 bản của phái Di sa tắc, 17 bản của phái Ca Diếp tỉ la, 42 bản của phái Pháp mật, 67 bản của phái Nhất thiết hữu, 36 Bộ Nhân Minh Luậnb, 13 bộ Thanh Minh Luận, tổng cộng 520 hòm có 675 cuốn. Ngài phải dùng 20 con ngựa để mang tất cả.( Theo HT Thích Minh Châu. Huyền Trang nhà chiêm bái và học giả. Viện Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. 1966, tr 55).

Năm 652 xây tháp Đại Nhạn cao 45m để chứa kinh Phật. tháp Tiểu Nhạn cao 45 m.

Việc Kết tập Kinh Điển đã được tổ chức tại Ấn Độ. Sau khi Phật qua đời, sau đó 80 năm, 200 năm  và thời A Dục Vương sau thời Phật 300 năm. Không có chuyện kết tập Kinh điển và phân bộ kinh tại Trung Quốc. Do đó thời Lương Võ Đế nhà Tùy chỉ có việc dịch kinh, in kinh và phân phối cho các chùa các nơi. Nhà Tùy đóng đô tại Trường An, do đó việc phân kinh chắc cũng ở Trường An.Trường An không nằm trên đường đi sứ Nguyễn Du năm 1813, do đó Nguyễn Du có lẽ viết bài Phân Kinh Thạch đài năm 1789. Tôi đến Trường An năm 2009 đến thăm hai chùa Đại Nhạn và Tiểu Nhạn với kiến trúc quy mô, nhưng hỏi đến Phân Kinh Thạch Đài đời nhà Tùy thì chẳng ai biết. Thời Nguyễn Du đến năm 1789 thì chỉ còn đài đá còn hai chữ Phân Kinh.

Thái tử Chiêu Minh, tên là Chiêu Thống (trùng tên hiệu vua cuối cùng nhà Lê nước ta) đời nhà  Tùy còn gọi là nhà Lương(502-556) con vua Lương Vũ Đế (Chiêu Diên) (502-539).Một trong bốn triều vua thời Nam triều (Tống, Tề, Lương, Trần). Hai cha con đều sùng đạo Phật. Chiêu Minh là tác giả bộ Văn Tuyển, lập đài kỷ niệm nơi chia kinh :

Đây nơi Thái Tử Chiêu Minh đời Lương chia kinh, đài đá còn ghi hai chữ Phân Kinh, nền đài hoang vu dưới làn mưa, cây cỏ bị rét đều chết khô, nay không thấy kinh ở đâu hết. Chỉ nghe đồn chuyện thái tử triều Lương ngày xưa. Thái tử tuổi trẻ say đắm văn chương, khéo bày chuyện chia kinh chỉ thêm rắc rối vô ích. Đạo Phật vốn là không, không nhờ vào vật, đâu có ở kinh mà chia ? Văn thiêng không ở ngôn ngữ. Kinh Kim Cương là gì ? Kinh Pháp Hoa là gì ? Giữa sắc với không mờ mịt không hiểu rõ. U mê theo Phật, thì Phật trở thành ma. Một nhà cả hai cha con đều mù quáng. Ma sinh ra trong  ýnghĩ, không thấy đài sen mọc ở chốn sơn lăng. Buổi sớm kia (Hầu Cảnh) cưỡi ngựa trắng qua Trường giang (Hầu Cảnh trước là tướng Đông Ngụy, sau hàng Lương, rồi lại phản Lương, cưỡi ngựa trắng qua sông Trường Giang đánh Vũ Đế. Khi Hầu Cảnh hàng Lương, Đông Ngụy đưa tờ hịch cho Lương cảnh báo : Sợ nước Sở mất vượn, họa lây đến cây rừng, cửa thành cháy, vạ lây đến cá dưới ao). Cây rừng Sở bị họa, ca dưới ao bị vạ lây. Kinh bị thiêu ra tro, đài  cũng đổ nát, nghìn vạn lời lưu lại cũng vô ích, chỉ để bọn ngu tăng đời sau đọc điếc tai người ta. Ta nghe nói Thế tôn ở Linh Sơn, thuyết pháp cứu nhiều người nhiều như cát sông Hằng Hà,. Người ta hiểu chữ tâm tức là ngộ rồi. Linh Sơn chỉ ờ trong lòng người. Minh Kính cũng không phải là dài. Lục Tổ Huệ Năng có bài kệ : Bồ đề bản vô thụ, Minh Kính diệc phi đài, Bản Lạ vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai ?. dịch : Bồ đề không phải cây, Minh Kính không phải đài, Vốn không phải một vật. Bụi bặm vướng vào đâu ?. Ta đọc kinh Kim Cương nghìn lượt. Những ý nghĩa gọi là cao sâu trong đó phần nhiều không rõ ràng. Khi đến dưới đài phân kinh này mới biết kinh không chữ mới là chân kinh.



Các tin mới
Các tin cũ hơn
Tin tức
Thư ngỏ Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Nhân dịp khai giảng năm học 2012-2013 Tin cập nhật về Quỹ học bổng đến 09/2012 Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Đợt 1 năm 2012 Lễ khai giảng năm học 2011-2012 và trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 2 năm 2011 Bài phát biểu của thầy Phạm Tấn Sáu tại buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 1 năm 2011 Một số hình ảnh về buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 25 năm ta về Phát biều khai mạc buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Làm việc với Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu về việc trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2011 Trang thông thông tin của UBND huyện Điện Bàn đã đưa tin về việc thành lập và hoạt động của Quỹ học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu có Hiệu Trưởng mới Bản nhạc "Khúc hoài niệm trường xưa" của Nguyễn Thị Hồng Vy (12G) gửi tặng các bạn Nguyễn Duy Hiệu niên khoá 1983-1986 Danh sách tài trợ Quỹ học bổng Cựu học sinh Nguyễn Duy Hiệu 83-86 vừa mới được bổ nhiệm và bầu các chức vụ lãnh đạo Sinh hoạt chia tay thầy Nguyễn Trí Viễn - Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu và các thầy cô nghỉ hưu Lễ trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 đợt 2 năm 2010 Ủng hộ Quỹ học bổng của Trường năm học 2009-2010 Giới thiệu Quỹ Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 với giáo viên và học sinh của trường THPT Nguyễn Duy Hiệu Bản ghi nhớ V/v Thực hiện trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2010

Thông tin tài khoản đóng góp

Chủ tài khoản : Phan Tấn Đạt
Số CMND : 200928255
cấp ngày : 01/04/2003
tại : Công an TP Đà Nẵng

Số tài khoản 2000.201.164.156
tại : Ngân hàng Nông nghiệp
        & PTNT TP Đà Nẵng


<<Prev Next>>

Lượt truy cập : 446628
Copyright © 2008 by NDH 1983-1986 All rights Reserved
Design by Phan Anh Hào Email: haopa@gso.gov.vn - COSIS ĐÀ NẴNG