Qũy Học bổng CHS Nguyễn Duy Hiệu - Điện Bàn, khóa 83-86

Hình ảnh hoạt động

Danh sách các lớp khóa 8386
//http://ndh8386.org/forum/index.php

  Tin chi tiết
 

    NGUYỄN DU – NHÀ SƯ CHÍ HIÊN (phan 2)
ĐÀI ĐÁ CHIA KINH CỦA THÁI TỬ LƯƠNG CHIÊU MINH

Triều Lương, Chiêu Minh thái tử, chốn phân kinh,

Đài đá còn ghi chữ Phân Kinh.

Hoang vu nền cũ trong mưa gió,

Lạnh tàn cây cỏ xác xơ cành

Chốn cũ nơi đây nào thấy kinh,

Còn nghe lưu truyền Lương thái tử.

Thái tử tuổi trẻ say văn chương,

Bày chuyện chia kinh vô tích sự

Đạo Phật vốn không, không nhờ vật,

Là gì Kim Cương và Pháp Hoa ?

Nào có kinh gì để phân chia,

Văn thiêng không ở nơi ngôn ngữ,

Sắc không mờ mịt không hiểu rõ,

Tâm mê theo Phật, Phật thành ma,

Một nhà cha con đều mù lòa

Ma tự sinh ra trong ý nghĩ.

Hoa sen nào thấy chốn sơn lăng.

Ngựa trắng một sớm qua Trường Giang,

Cây Sở cá ao đều bị họa,

Kinh sách ra tro đài tàn hoang,

Nghìn vạn lời lưu lại ích chăng ?

Điếc tai đời sau bọn ngu tăng.

Ta nghe Thế Tôn núi Linh Thứu,

Thuyết pháp  độ nhiều sa số như cát sông Hằng,

Người hiểu được tâm ấy độ rồi,

Linh Sơn chỉở trong lòng người,

Bồ Đề chẳng phải cây,

Minh kính không là đài.

Ta đọc Kim Cương hàng nghìn lượt,

Lắm điều sâu kín khó hiểu rành.

Phân kinh thạch đài nay đến đó,

Mới hay không chữ là chân kinh.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

LƯƠNG CHIÊU MINH THÁI TỬ

PHÂN KINH THẠCH ĐÀI

Lương Triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ,

Thạch Đài do ký « Phân Kinh” tự.

Đài cơ vu một vũ hoa trung,

Bách thảo kinh hàn tận khô tử.

Bất kiến di kinh hà tại sở,

Vãng sự không truyền Lương thái tử.

Thái tử niên thiếu nịch ư văn.

Cưỡng tác giải sự đồ phân phân,

Phật bản thị không, bất trước vật,

Hà hữu hổ kinh, an dụng phân ?

Linh vân bất tại ngôn ngữ khoa.

Thục vi Kim Cương, vi Pháp Hoa ?

Sắc không cảnh giới mang bất ngộ,

Si tâm qui Phật, Phật sinh ma,

Nhất môn phụ tử đa giao tế,

Nhất niệm chi trung, ma tự chí,

Sơn lang bất dũng hoa liên đài.

Bạch mã triêu độ Trường giang thủy,

Sở lâmhoa mộc, trì ương ngư,

Kinh quyển thiêu hôi, đài diệc dĩ.

Không lưu vô ích vạn thiên ngôn,

Hậu thế ngu tằng đồ quát nhĩ,

Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn,

Thuyết pháp độ nhân như Hằng hà sa số.

Nhân liễu thử tâm, tâm tự độ,

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.

Minh kính diệc phi đài,

Bồ Đề bản vơ thụ.

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh,

Cập đáo Phân Kinh thạch đài hạ,

Tài tri vô tự thị chân kinh.

Chú thích

Thế Tôn: Đức Thích Ca Mâu Ni.

Linh Sơn: hay Linh Thứu nơi Phật ở thuyết kinh Pháp Hoa.

Hằng hà: Phật đông như cát sông hồng, ai cũng co thể thành Phật được.

Lương Võ Đế: theo Pháp Bảo Đàn Kinh : Một hôm Lục Tổ Huệ Năng đăng đàn nói Pháp thì vị thứ sử hỏi sư rằng: “Đệ tử có nghe khi Đạt ma mới giáo hóa cho Lương Võ Đế: Đế có hỏi rằng: – Một đời trẩm xây dựng chùa chiền, cúng dường tăng, bố thí thiết trai; Vậy có công đức gì không ? Đạt Ma dạy: -Thật chẳng có công đức gì cả. Đệ tử chưa rõ được lý này, mong hòa thượng vì đệ tử chỉ dạy.” Sư dạy:- Thật chẳng có công đức gì cả, chớ nghi ngờ lời nói thánh xưa. Vì Võ Đế mang tâm tà nên chẳng hiểu chánh pháp. Việc xây dựng chùa chiền, cúng dường tăng chúng, bố thí thiết trai là những việc cầu phước, chẳng thểđem phước đó để cầu công đức được. Công đức thìở trong pháp thân thì chẳng phải ở tu phước.

Kinh Pháp Hoa: bộ kinh Đại Thừa quan trọng nhất lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Triều Tiên, Việt Nam. Thiên Thai Tông lấy kinh này làm căn bản. Đó là bản kinh ghi lời cuối đời Phật dạy ở núi Linh Thứu. Kết tập 200 năm sau.  Giáo pháp về sự chuyển hóa của Phật Tính và khảnăng giải thoát. Có nhiều cách để giác ngộ, nhưng chúng chỉ là phương tiện nhất thời và thực tế chúng chỉ là một.

Kinh Kim Cương: Bộ kinh đàm luận giữa Phật và Tôn giả Tu ĐàĐà. Bài  kệ cuối cùng tóm lược: “Tất cả các pháp hữu vi như mộng, nhưảo ảnh, như bọt nước, như bóng, như sương mai, nhưánh chớp cần phải nhìn nhận chúng như thế.”

Nguyễn Du đến Chiêu Lăng của Đường Thái Tông, phía Tây Trường An cạnh Vị Thành. Khu mộ an táng các công thần có công giúp nước. Bùi Tấn Công tức Bùi Độ tự Trung Lập, người đời Đường làm quan dưới triều Đường Hiến Tông (806-820) có công dẹp giặc được phong Tấn Quốc Công, làm Tể tướng ba mươi năm, sau vì bọn hoạn quan lộng quyền, ông cáo quan về nhà ngâm vịnh với các nhà thơđương thời như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích. Thăm mộ Bùi Tấn Công phải chăng Nguyễn Du nhớ đến cha anh, những người văn võ toàn tài, chỉ vì bọn kiêu binh lộng quyền mà mất nước. Trên cánh đồng thu rộng mênh mông gò đống bằng phẳng, Tấm bia mộ còn ghi tên Tấn Công. Một tấm lòng son lưu tiếng xưa nay. Nghìn năm xương trắng chia cách kẻ sống người chết. Ông có thừa tài thao lược làm tướng văn tướng võ. Còn về hình tượng đặt trên Gác Yên Đài ghi tên người có công không cần vẽ tranh xanh đỏđiểm tô làm gì. Đau lòng gần đây thấy cây ở Chiêu Lăng tiếng quyên kêu suốt một dãi Vị Thành.

Mộ BÙI TẤN CÔNG

Đồng thu vắng lạnh đống gò bằng,

Tấm mộ bia ghi tên Tấn Công,

Một tấm lòng son kim cổ nhớ,

Nghìn năm xương trắng tử sinh đành.

Tài cao mưu lược tướng văn võ,

Hình dáng cần chi nét đỏ xanh.

Cây cảnh Chiêu Lăng còn thổn thức,

Quyên kêu Thành Vị tiếng đau lòng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

BÙI TẤN CÔNG Mộ

Đãng đãng thu nguyên khâu lũng bình,

Mộ bi do chí Tấn Công danh.

Đan tâm nhất điểm lưu kim cổ,

Bạch cốt kim niên cách tử sinh.

Tẩn hữu du vi ưu tướng tướng,

Vô phương hình mạo yếm đan thanh

Thương tâm cận nhật Chiêu Lăng thụ,

Nhất đái đề quyên triệt Vị Thành.

Chú Thích:

Câu 5, 6 nguyên câu Bùi Độ đề vào bức vẽ truyền thần của mình: Thân hình không cao, diện mạo không đẹp mà sao làm được tướng văn tướng võ. Chỉ có cái tâm linh thiêng liêng không vẽ được. Bùi Độ tướng mạo tầm thường nhưng văn võ toàn tài.

Nguyễn Du đến thăm quê cũ Dương Quý Phi tức Dương Ngọc Hoàn, người Hoàng Nông, Hoa Âm tỉnh Thiểm Tây, mồ côi sớm được chú là Dương Huyền Yêu nuôi, mười tám tuổi nàng làm thị nữ cho Thọ Vương Mạo, con thứ 18 vua Đường Huyền Tông. Thấy nàng nhan sắc giống quý phi nhà vua mới mất. Thọ Vương tiến nàng vào cung vua. Huyền Tông yêu phong làm Quý Phi. Họ hàng Quý Phi  nhờ thế mà lên địa vị cao. An Lộc Sơn nổi loạn. Huyền Tông chạy vào đất Thục, đến Mã Ngôi quân lính không chịu đi, đòi trừng phạt Dương Quốc Trung anh họ nàng và Dương Quý Phi. Nàng thắt cổ chết. Sự kiện Dương Quý Phi giống như Đặng Thị Huệ, quý Phi của chúa Trịnh Sâm, em trai cũng lộng quyền, kiêu binh cũng đòi trừng trị như thế. Phải chăng Nguyễn Du mượn chuyện Dương Quý Phi để nói đến Đặng Thị Huệ, nàng không tội tình gì, bao nhiêu tiến sĩ triều đình, bao nhiêu võ tướng đều bất tài vô dụng như phổng đá như con ngựa làm cảnh, nên đỗ oan việc mất nước cho một người đàn bà ?

Bài thơ viết: Mây núi thưa thớt, hoa bên sông rực rỡ (Nguyễn Du đến Trường An vào mùa xuân năm 1789). Nghe nói Dương Quý Phi sinh ở đất này. Chỉ vì cả triều đình đều như phỗng đứng, mà nghìn năm cứ đổ oan cho sắc đẹp nghiêng thành. Cung Nam Nội buồn teo, cỏ dại mọc khắp. Đồng Tây Giao vắng ngắt, gò đống san bằng. Hương tàn phấn rã, nay biết tìm đâu ? Dưới thành gióĐông thổi, khiến người cảm xúc vô hạn.

QUÊ CŨ DƯƠNG QUÝ PHI

Bên sông hoa nở núi mây thanh,

Nghe nói Dương Phi đất ấy sanh.

Vì cả triều đình như phổng đứng,

Đỗ oan nghìn thuở sắc nghiêng thành.

Cỏ cây Nam Nội buồn man mác,

Gò đống Tây Giao giờ vắng tanh.

Hoa phấn hương tàn ai biết nữa,

Gió đông hiu hút dưới chân thành.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

DƯƠNG QUÝ PHI CỐ  LÝ

Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,

Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh.

Tự thị cử triều không lập trượng,

Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.

Tiêu tiêu Nam Nội bồng cao biến,

Mịch mịch Tây Giao khâu lũng bình.

Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ,

Uông phong thành hạ bất thăng tình.

Chú thích:

Lập trượng : đứng im, lấy tích Lập trượng mã, những con ngựa được luyện tập đứng im, làm nghi vệ cho nhà vua, con nào kêu bịđuổi ra. Ởđây chỉ những ông quan không dám mở miệng can gián vua, để xảy ra cuộc loạn An Lộc Sơn.

Nam Nội tức cung Hưng Khánh, nơi Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi ở.

Tây Giao: cánh đồng phía Tây, chỉ Mã Ngôi ở phía Tây Trường An, nơi Dương Quý Phi bị thắt cổ chết.

Trường An thời Nguyễn Du đến cũng chẳng còn cung điện, Cung A Phòng nguy nga nhà Tần đã bị đốt cháy hàng tháng trời, Cung nhà Hán, nhà Tùy, nhà Đường cũng chỉ còn nền gạch,  cuối thời nhà Đường kinh đô dời xuống Lạc Dương. Các khám phá mộ của Tần Thủy Hoàng gần đây, thời Nguyễn Du chưa biết.  Trường An chỉ còn lại những ngôi chùa, chùa Phật, chùa Tây Tạng, chùa Đạo Hồi của người Huy, hai ngôi chùa Đại Nhạn và Tiểu Nhạn nơi Trần Huyền Trang dịch kinh với quy mô to lớn không thấy Nguyễn Du nói đến. Có thể Phân Kinh Thạch Đài nằm nơi này chăng ? Trường An cũng có nhiều danh nhân, nhưng Nguyễn Du chỉ cảm xúc trước Dương Quý Phi và Bùi Tấn Công.

Sau khi thăm Trường An, Nguyễn Du lại xuống thuyền theo đường sông Hán, theo sông Trường Giang vào kênh Đại Vận Hà đến Hàng Châu. Mộ Nhạc Phi là nơi hẹn gặp lại Nguyễn Đại Lang. Nguyễn Du đẽ làm 5 bài thơ nơi này, chứng tỏ Nguyễn Du chờ đợi khá lâu. Các nơi khác Nguyễn Du đi qua chỉ làm một bài thơ. Mộ Nhạc Phi là nơi danh lam thắng cảnh nổi danh mọi người đều đến thăm viếng, để ngưỡng mộ  tấm lòng trung nghĩa một anh hùng chết vì nước hãm hại bởi gian thần. Hàng Châu với Tây Hồ nàng Tiểu Thanh. Tây Hồ là hồ nhỏ nhất nhưng đẹp nhất trong Ngũ Hồ của Trung Quốc: Thái Hồ, Động Đình Hồ, Tây Hồ, Đan Dương Hồ và Nhạc Châu Hồ. Người Trung Quốc có câu nói: Trên trời có thiên đàng, dưới đất có Tô, Hàng (Tô Châu và Hàng Châu). Tô Châu có những dòng kinh, những cây cầu, có những khu vườn danh tiếng trồng cây hải đường Hải đường lả ngọn đông lân, vườn sen, nhà thủy tạ, vườn non bộ  tùng, thạch, trúc, với chuông chùa Hàn San, có nàng Tây Thi giặt lụa thôn Trữ La… Hàng Châu với Tây Hồ và các dòng sông, mùa thu sương muối làm cho lá thu rực đỏ: rừng thu phong đã nhuốm màu quan san, có các quán trà Long Tỉnh, thời Nguyễn Du có các thanh lâu ẩn hiện bên các bờ liễu rũ, có tiếng hát các nàng Kiều làm ngây ngất các anh hùng.. Theo truyền thuyết vua Đại Vũ lập nơi đây kinh đô nhà Hạ và đắp đê trị thủy sông Dương Tử Thế kỷ thứ VIII nhà Tùy, nhà Đường đã cho đào Kinh Đại Vận Hà rộng 40m nối liền Bắc Nam từ Bắc Kinh, nối sông Hoàng Hà, Sông Hoài sông Dương Tử đến Hàng Châu và đến Bắc Quế Lâm. và một đường kinh khác nối Liêu Dương và Trướng An dài 400km, một công trình quan trọng không kém gì Vạn Lý Trường Thành. Thi hào Bạch Cư Dị (772-846) tác giả bài Tỳ Bà Hành. Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, làm quan cai trị Hàng Châu năm 824  đã nâng cao bờđê phía Nam Tây Hồ. Với 360 ngôi chùa Hàng Châu là một trung tâm văn hóa tôn giáo. Thế Kỷ thứ XII đời nhà Tống nhà Kim xâm lăng Trung Quốc. Lâm An tên gọi Hàng Châu thời bấy giờ trở thành kinh đô Nam Tống. Dân chúng tỵ nạn đổ về làm dân số Hàng Châu lên đến 1, 25 triệu người. Hàng Châu phát triển đường thủy trở thành một bến cảng hàng đầu và là đầu mối con đường tơ lụa trên bộ cũng như trên biển. Mông Cổ diệt nhà Tống lập nên nhà Nguyên năm 1279. Hàng Châu vẫn là thủđô kinh tế văn hóa Trung Quốc.

Nhạc Phi (1103-1141) anh hùng khí khái bậc nhất Trung Quốc. Lăng mộ Nhạc Phi dưới núi Thê Hà bên Tây Hồ là thắng cảnh quan trọng bậc nhất Hàng Châu, nơi hò hẹn các anh hùng, tráng sĩ. Nhạc Vũ Mục tức Nhạc Phi người thới Nam Tống. Lúc bấy giờ trong triều đình có hai phe, Phe Tần Cối chủ trương hòa với Kim, còn phe Nhạc Phi chủ trương đánh. Sau mười năm xây dựng lực lượng, Nhạc Phi muốn đem quân tiến đánh quân Kim thì Tể Tướng Tần Cối mạo lệnh vua gọi về, một ngày hạ 12 đạo kim bài, bắt Nhạc Phi rút quân về. Lần cuối cùng Nhạc Phi phải than một câu rằng: Công lao mười năm bỏ đi một ngày,  rồi mang quân về. Tần Cối giam vào ngục rồi giết chết. Nhạc Phi về sau được truy tặng là Nhạc Vũ Mục. Mộ Nhạc Phi trước có tượng Nhạc Phi ngồi trong nhung phục màu tím tay phải nắm đặt trên đùi, tay trái nắm chuôi kiếm, phía sau có bốn chữ Hoàn Ngã Hà Sơn (Trả lại ta giang sơn đã mất). Tượng bị phá thời Cách Mạng Văn Hóa, đã được làm lại và hoàn thành năm 1979.Nhạc Phi bị xử tử tại Phong Ba Đình sau vua Tống Hiếu Tông giải oan được cải táng nơi đây. Trước mộ Nhạc Phi có 4 tượng: Tể Tướng Tần Cối, vợ y là Vương Thị, Tướng Mặc Kỳ Tiết và viên cai ngục Trương Tuấn. Người đến thăm mộ thường đánh đập, phỉ nhổ vào các tượng sắt trên. Năm 1813 Nguyễn Du khi đi sứ ngang thành Hà Nam đất Yên nơi Nhạc Phi đóng quân chiêu tập bình mã, có làm bài thơ  Yên Thành Nhạc Vũ Mục ban sư xứ.

Bài Nhạc Vũ Mục mộ:Ông là vị anh hùng xuất hiện trong trăm trận đánh ở Trung Nguyên, với chiếc thương thần dài trượng tám và chiếc cung nặng sáu thạch. Ở tướng phủ, người ta đã ghép tội ông bằng cái án ba chữ (tam tự ngục). Khi Tần Cối khép Nhạc Phi vào tội tử hình. Hàn Thế Trung hỏi: “Có tội gì ? “ Cối trả lời “Mạc Tư hữu “ (Chẳng cần có) Về sau người ta gọi đó làtam tự ngục. Trong quân còn tiếc công ông mười năm trời. Sông hồ còn đó, nhưng anh hùng mất rồi Nam Tống rỗng không. Cây tùng bách vẫn ngạo nghễ trước gió bấc lao xao. Buồn trông về lăng miếu cũở Lâm An, thấy núi Thê Hà chìm trong khói chiều.

Mộ NHẠC VŨ MỤC

Trung nguyên trăm trận xuất anh hùng,

Trượng tám thương thần, sáu thạch cung.

Tướng phủ tội hình ba chữ án,

Trung quân thương tiếc công mười năm.

Sông hồ đâu kẻ hùng Nam Tống,

Tùng bách kiên cường trước Bắc Phong.

Hoài vọng Lâm An lăng miếu cũ,

Thê Hà chìm đắm khói sương dâng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

NHẠC VŨ MỤC Mộ

Trung nguyên bách chiến xuất anh hùng,

Trượng bát thần thương, lục thạch cung.

Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục,

Quân môn do tích lập niên công,

Giang hồ xứ xứ không Nam Tống,

Tùng bách tranh tranh ngạo Bắc Phong,

Trường vọng Lâm An cựu lăng miếu,

Thê Hà sơn tại mộ  yên trung.

Chú thích:

Thạch: 120 cân Trung Quốc.

Lâm An:  tên cũ Hàng Châu tỉnh Triết Giang  thời Nam Tống trên sông Tiền Đường.

Thê Hà tên quả núí  dưới chân có mộ Nhạc Phi.

Nguyễn Du làm hai bài Tần Cối  tượng  và hai bài Vương Thị tượng.

Tần Cối Tượng bài I : Cây cối cạnh điện vua năm nào, nay đã bửa làm củi rồi, mà tên Cối lại đến dựa dẫm bên mộ Nhạc Vương; Nguyễn Du chơi chữ Cối trong điện cối, cây cối bên cạnh cung điện với tên Tần Cối. Đúng và sai là chuyện để ngàn năm định luận. Cái tượng Tần Cối, thân giảấy, dùđánh chửi có biết đau đớn gìđâu ? Cứng cát như thế rõ là con người sắt. Cớ sao lại khúm núm thờ quân Kim. Ai bảo kẻ náy không có công gìở đời. ? Muôn năm sau còn có thể làm cho bọn loạn thần phải lo sợ.

Các tin mới
Các tin cũ hơn
Tin tức
Thư ngỏ Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Nhân dịp khai giảng năm học 2012-2013 Tin cập nhật về Quỹ học bổng đến 09/2012 Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Đợt 1 năm 2012 Lễ khai giảng năm học 2011-2012 và trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 2 năm 2011 Bài phát biểu của thầy Phạm Tấn Sáu tại buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 1 năm 2011 Một số hình ảnh về buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 25 năm ta về Phát biều khai mạc buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Làm việc với Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu về việc trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2011 Trang thông thông tin của UBND huyện Điện Bàn đã đưa tin về việc thành lập và hoạt động của Quỹ học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu có Hiệu Trưởng mới Bản nhạc "Khúc hoài niệm trường xưa" của Nguyễn Thị Hồng Vy (12G) gửi tặng các bạn Nguyễn Duy Hiệu niên khoá 1983-1986 Danh sách tài trợ Quỹ học bổng Cựu học sinh Nguyễn Duy Hiệu 83-86 vừa mới được bổ nhiệm và bầu các chức vụ lãnh đạo Sinh hoạt chia tay thầy Nguyễn Trí Viễn - Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu và các thầy cô nghỉ hưu Lễ trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 đợt 2 năm 2010 Ủng hộ Quỹ học bổng của Trường năm học 2009-2010 Giới thiệu Quỹ Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 với giáo viên và học sinh của trường THPT Nguyễn Duy Hiệu Bản ghi nhớ V/v Thực hiện trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2010

Thông tin tài khoản đóng góp

Chủ tài khoản : Phan Tấn Đạt
Số CMND : 200928255
cấp ngày : 01/04/2003
tại : Công an TP Đà Nẵng

Số tài khoản 2000.201.164.156
tại : Ngân hàng Nông nghiệp
        & PTNT TP Đà Nẵng


<<Prev Next>>

Lượt truy cập : 446622
Copyright © 2008 by NDH 1983-1986 All rights Reserved
Design by Phan Anh Hào Email: haopa@gso.gov.vn - COSIS ĐÀ NẴNG