Qũy Học bổng CHS Nguyễn Duy Hiệu - Điện Bàn, khóa 83-86

Hình ảnh hoạt động

Danh sách các lớp khóa 8386
//http://ndh8386.org/forum/index.php

  Tin chi tiết
 

    NGUYỄN DU – NHÀ SƯ CHÍ HIÊN (phan 3)

TƯỢNG TẦN CỐI I

Cây cối điện xưa thành củi rồi,

Nhạc Vương mộ đây Cối nương thời.

Đúng sai chuyện cũ nghìn năm luận,

Đánh mắng giả thân công mất thôi.

Chơ vơ mặt sắt trơ trơ đó,

Luồn cúi quân Kim chẳng nhục lời.

Chớ bào kẻ này công chẳng có,

Gian thần vạn cổ làm gương soi.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẦN CỐI TƯỢNG I

Điện cối hà niên chùy tác tân;

Khước lai y bạng Nhạc Vương phần.

Thị phi tẫn thuộc thiên niên sự,

Đả mạ hà thương nhất giả thân.

Như thử tranh tranh chân thiết hán,

Nại hà mĩ mĩ sự Kim nhân ?

Thùy vân ư thế vô công liệt ?

Vạn cổ do năng cụ lạn thần.

Chú thích:

Tương truyền cuối Bắc Tống, bên điện Vua Huy Tông có cây cối sinh nấm ngọc, người ta cho đó làđiền Tần Cối, được trọng dụng để làm mất nhà Tống . Tần Cối trước làm quan Bắc Tống được quân Kim bắt được rồi tha về Nam làm Tể Tướng Nam Tống.

Bài tượng Tần Cối I I.  Gác Cách Thiên lầu ngọc đều đổ nát, nhưng đứa gian phi vẫn còn đây. Suốt đời trái tim đen tối cũa nó vẫn chứa đầy nọc độc. Nghìn năm cục sắt sống kia phải chịu nỗi oan lạ lùng. Trong ngục người trung thần khi sống phải đổ máu. Dưới thềm kẻ gian chết rồi mà vẫn hành tội. Nó cũng bất tử như bậc trung thần. Cái phúc lạ lùng tày trời của nó thật là vô lý quá.

TƯỢNG TẦN CỐI  II

Cách Thiên gác đổ ngọc lầu tàn,

Nhưng vẫn còn đây một kẻ gian.

Một kiếp tim đen đầy nọc độc,

Nghìn năm thỏi sắt chịu hàm oan.

Trung thần trong ngục sống tuôn máu,

Gian tặc dưới thềm chết vẫn hành.

Gian xảo trung thần cùng bất tử,

Lạ lùng cái phúc thật vô công.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẦN CỐI TƯỢNG II

Cách thiên các hủy ngọc lâu tàn,

Do hữu ngoan bì tại thử gian.

Nhất thể tử tâm hoài đại độc,

Thiên niên sinh thiết phụ kỳ oan.

Ngục trung dĩ tiễn sinh tiền huyết,

Giai hạ đồ tru tử hậu gian.

Đắc dữ trung thần đồng bất hủ,

Tề thiên kỳ phúc thái vô đoan.

Chú thích:

Cách Thiên các: Nhà gác của Tần Cối ở, co treo tấm biển đề bốn chữNhất đức cách thiên nên gọi là Cách Thiên các. Bốn chữấy tự tay vua Huy Tông nhà Tống viết tặng Tần Cối, nghĩa là vua tôi cùng có đức thuần nhất có thể cảm thông được trời.

Bài Vương Thị I. Vương Thị là vợ tên gian thần Tần Cối đời Tống (960-1279). Lưỡi dài ba tấc của thị để làm gì ? Khéo cùng kẻ quyền gian kết làm vợ chồng.. Ngày bắt được hổ là trừ được mối lo về sau. Thì còn ai hỏi đến cái công sau này uống rượu mừng ở Hoàng Long. Tống bị Kim xâm lăng, Tần Cối chủ hoà, Nhạc Phi chủđánh. Tần Cối giả lệnh vua bắt Nhạc Phi bỏ ngục, coi như bắt được hổ, nếu để sổng ra thì có mối lo về sau, nên giết đi. Nhạc Phi cầm quân đánh Kim, có hẹn với tướng sĩ rằng: Thẳng đến Hoàng Long cùng các người uống rượu mừng. (Hoàng Long là kinh đô nước Kim phía Bắc Trung Quốc, nay ở tỉnh Liêu Đông. Một đời bụng dạ Vương Thị giống hệt như chồng. nghìn năm hình hài thị làm nhục nữ giời. Việc đó nghĩ đến ba chữ: Mạc tư hữu (chẳng cần có) biết đâu là lời nói riêng của thị chốn khuê phòng, chẳng ai biết được.

VƯƠNG THỊ TƯỢNG I

Lưỡi dài ba tấc làm chi chăng ?

Cùng kẻ quyền gian kết vợ chồng.

Định chuyện lo sau giam Hổ lại,

Còn chi công trước rượu Long mừng.

Một đời bụng dạ như chồng hệt.

Nghìn thuở dung nhan nhục má hồng.

Nghĩ đến một câu: chả cần có,

Biết đâu lời thị chốn khuê phòng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

VƯƠNG THỊ TƯỢNG I

Thiệt trường ba xích cánh hà vi ?

Hảo dữ quyền gian bị xướng tùy.

Hậu hoạn chính ân cầm hổ nhật,

Tiền công an vấn ẩm long kỳ.

Nhất sinh tâm tícjh đồng phu tế.

Thiên cổ hình hài nhục nữ nhi.

Để sự tưởng lai “mạc tư hữu “

Khuê trung tư ngữ cách thùy tri.

Tượng Vương Thị bài I I. Mưu mô sâu sắc hơn cả chồng, thị là hạng gà mái gáy sớm bậc nhất. Thị có cái lười dài ba tấc bất hủ, thân hình lại được đúc  bằng gan thép lưu truyền lại muôn đời. Trọn đạo xướng tùy chắc không có gì hối hận ? Thủđoạn bằng nhau nên càng ăn ý với nhau. Chớ bảo đàn bà không có sức mạnh. Chính thịđã phá vỡ quân đội của Nhạc Phi.

TƯỢNG VƯƠNG THỊ II

Mưu mô sâu sắc cả hơn chồng,

“ Gà mái gáy sớm “ nhất tiếng danh,

Ba tấc lưỡi mềm trời phú thế,

Nghìn năm thân rắn thép gan thành.

Xướng tùy trọn đạo lòng cùng sướng,

Xảo quyệt tương thân dạ kết đồng.

Chớ bảo nữ nhi không sức mạnh

Phá quân Nhạc Vũ đến tan tành.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

VƯƠNG THỊ TƯỢNG II

Thâm đồ mật toán thắng phu quân,

Ưng thị “thần kể đệ nhất nhân.

Bất lạn dĩ sinh tam thốn thiệt,

Thuần cương hoàn đắc vạn niên thân.

Xướng tùy tận đạo ưng vô hối.

Kỹ lưỡng đồng niên cánh khả thân.

Mạc đạo nữ nhi vô lực lượng,

Dã tằng hám phá Nhạc gia quân.

Chú thích:

Thần kê: do câu Tẫn kê tư thần: gà mái gáy sớm, chỉ người đàn bà lộng quyền.

Nhạc gia quân: quân họ Nhạc. Quân Kim rất sợ Nhạc Phi, thường bảo nhau: Chuyển núi thì dễ, phá quân đội của Nhạc Phi thì khó.

Nguyễn Du chờ đợi gặp lại Nguyễn Đại Lang tại Miếu Nhạc Phi, là nơi duy nhất Nguyễn Du làm 5 bài thơ, chứng tỏ thời gian chờ đợi khá lâu. Đối diện với Miếu Nhạc Phi phía nam Tây Hồ là chùa Hổ Pháo, nơi đây Từ Hải tức Minh Sơn Hoà Thượng từng tu hành. Từ miếu Nhạc Phi sang chùa Hổ Pháo có con đê Tư (Su) chạy thẳng, không phải đi vòng quanh hồ, tương tự như vị thế Đền Trấn Võ với chùa Trấn Quốc có con đê đường Cổ Ngư, Hồ Tây, Hà Nội.  Có lẽ duyên tiền định Nguyễn Du đã đến trú, tụng kinh Kim Cương  nơi này chăng ?  Từ Hải người Huy Châu (Hấp Huyện, An Huy ngày nay) Nguyễn Du đã lấy quê Việt Đông của Nguyễn Đại Lang để gán cho Từ Hải. Họ Từ trước tu, học tập võ nghệởđây, rồi xuống núi trở thành một thủ lĩnh cướp biển triều nhà Minh, sau cấu kết với cướp biển Vương Trực thường dẫn “nụy khấu “ (cướp biển) đốt cướp các đất  duyên hải Giang, Triết. Năm Gia Tĩnh 35 (1556) vì nghe lời dụ khéo của Tổng Đốc Hồ Tôn Hiến qua trung gian người vợ là nàng Kiều. Từ Hải bị  vây bắt nên nhảy xuống sông tự tử.

Hồ Tôn Hiến (? – 1556). Tổ tiên của Hồ Cẩm Đào. Là đại thần triều Minh (1368-1644). Tự là Nhữ Trinh, hiệu là Mai Lâm, người Tích Khê tỉnh An Huy. Đậu tiến sĩ thời Gia Tĩnh (Minh Thế Tông 1522-1566) được bổ làm tri huyện Ích Đô, tỉnh  Sơn Đông, sau đó Dư Diêu tỉnh Triết Giang. Rồi lên chức Ngự Sử, làm tuần án Tuyên Phủ tỉnh Hà Bắc, Đại Đồng tỉnh Sơn Tây. Năm Gia Tĩnh 33(1554) ra án giữ Triết Giang. Thời hải tặc Vương Trực làm giặc, ông bày kế độc giết đến trăm người, rồi lại phối hợp với Trương Kinh phá cướp biển ở Vương Giang Kinh (Gia Hưng, Bắc Triết Giang) ông được thăng Hữu Thiêm Đô Ngự Sử. Có công dụ khéo giết được Vương Trực, Từ Hải, Trần Đông, Ma Diếp nên được thăng chức Binh Bộ Thượng Thư, sau bị phe Nghiêm Tung hạ ngục rồi giết chết. (Theo Trung Quốc Lịch Đại Danh Nhân TừĐiển. Đại Học Nam Kinh. Giang Tây 1982 tr 397-398.)

Theo ông Nguyễn Văn Hoàn. Để có một bản Kiều tương đối đúng  với nguyên tác.Tập San Nghiên Cứu Văn Học số 2 năm 1961 , số 4 năm 1964 tr 47-57 và số 9 năm 1964 tr 104. Vương Thúy Kiều là một nhân vật có thật và được 18 tác phẩm viết đến gồm lịch sử, kim nhạc phủ, tiểu thuyết và hý kịch : Minh Sử : Liệt truyện Hồ Tôn Hiến. Minh sử ký sự bản mạt của Cốc Ứng Thái ; Minh đại đạt văn của Lâm Tuệ Như.  Lưỡng Hương Hoàn. Lưỡng Ca Kỹ. 3 bài Kim nhạc phủ. Trù Hải Đồ Biên do Mao Khôn xuất bản. Kiến chỉ Biên của Diêu Sĩ Lâm quyển hạ. Kỷ tiểu Từ Hải Bàn Mạt, trong Bạch Hoa Lâu Tàng Cảo của Mao Khôn. Lý Thúy Kiều Truyện của Đái Sĩ Lâm. Ảo ảnh hồi 7. Tuyết Nguyệt Mai hồi 47 của Trần Lãng. Vương Thúy Kiều Truyện của Dư Hoài. Hồ Thiếu Bảo bình nụy chiến công của Chu Tiếp. Thu Hổ Khưu của Vương Lung, Hổ Phách Thi của Diệp Trĩ Phỉ, Phù Nô Truyện, Song Thúy Viên của Hạ Bỉnh Hành  và Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.

Thanh Tâm Tài Nhân xuất hiện thời Khang Hy nhà Thanh (1662-1729) Tác giả này dựa vào chuyện Vương Thúy Kiều của người đi trước phát triển thành một pho tiểu thuyết gồm 20 hồi, viết văn bạch thoại, vận dụng hư cấu tự do thêm vào các nhân vật mới như Kim Trọng, Thúy Vân, Hoạn Thư, Thúc Sinh, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Giác Duyên, Tam Hợp Đạo Cô, viết lại gia cảnh họ Vương Thúy Kiều, loại bỏ nhiều nhân vật lịch sử như Vương Trực. Tác phẩm không còn chuyện ghi công  kỳ nữ có công với triều đình mà chuyển thành hồng nhan bạc mệnh muôn thuở. Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thuộc loại tiểu thuyết tài tử- giai nhân, thư sinh-kỹ nữ, vốn đã thành truyền thống từ thời Đường vàđang phát triễn mạnh thời Minh Thanh ; tác phẩm cũng mang nhiều nét khuôn sáo của thể loại này đương thời – một thể loại đang ở cao trào phát triễn, do nó kết hợp nhu cầu buông thả tình cảm kiểu thị dân với việc ngợi ca, khẳng định lễ giáo phong kiến (Theo Lại Nguyên Ân –Bùi Trọng Cường. TựĐiển Văn Học Việt Nam quyển I ; nxb Giáo Dục Hà Nội, tr 475 ,477.)

Nguyễn Du đến Hàng Châu năm 1790 trong thời điểm Kim Vân Kiều truyện được khắc bản và in bán nơi đây. Tại Hàng Châu, Nguyễn Du đã tiếp xúc với nơi Từ Hải từng đi tu, biết được cuộc sống những nàng ca kỹ hồng nhan bạc mệnh trong các thanh lâu Hàng Châu và say sưa đọc Kim Vân Kiều Truyện, Nguyễn Du quyết chí diễn ca thành thơ Nôm, năm đóông 24 tuổi.

Diễn Ca Kim Vân Kiều, Nguyễn Du không dịch từng câu văn xuôi thành thơ, mà nắm lấy ý chính, tùy hứng, tái sáng tạo thành một truyện thơ. Nhiều đoạn Nguyễn Du lượt bỏ nhưđoạn Kiều trảân oán trừng phạt Tú Bà, Mã Giám Sinh, Hoạn Thư.., và thêm vào thay vì chấm dứt nơi Kiều tự tử nơi sông Tiền Đường, Nguyễn Du, cho Kiều tái ngộ cùng gia đình. Những đoạn văn xuôi nặng nề, thô thiển, Nguyễn Du đã tái sáng tạo thành một trường thiên âm điệu lục bát tài tình. Truyền Kiều không phải là một tác phẩm dịch. Từ một tác phẩm thường thường bậc trung. Nguyễn Du đã tái tạo thành một tuyệt phẩm trong kho tàng văn chương nhân loại và đặt một tên mới Đoạn Trường Tân Thanh. Không phải là cốt truyện Kim Vân Kiều, mà tài nghệ văn chương Nguyễn Du đã biến Truyện Kiều thành một tuyệt tác.

PTC . Paris 2-2-2013

Các tin mới
Các tin cũ hơn
Tin tức
Thư ngỏ Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Nhân dịp khai giảng năm học 2012-2013 Tin cập nhật về Quỹ học bổng đến 09/2012 Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Đợt 1 năm 2012 Lễ khai giảng năm học 2011-2012 và trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 2 năm 2011 Bài phát biểu của thầy Phạm Tấn Sáu tại buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 1 năm 2011 Một số hình ảnh về buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 25 năm ta về Phát biều khai mạc buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Làm việc với Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu về việc trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2011 Trang thông thông tin của UBND huyện Điện Bàn đã đưa tin về việc thành lập và hoạt động của Quỹ học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu có Hiệu Trưởng mới Bản nhạc "Khúc hoài niệm trường xưa" của Nguyễn Thị Hồng Vy (12G) gửi tặng các bạn Nguyễn Duy Hiệu niên khoá 1983-1986 Danh sách tài trợ Quỹ học bổng Cựu học sinh Nguyễn Duy Hiệu 83-86 vừa mới được bổ nhiệm và bầu các chức vụ lãnh đạo Sinh hoạt chia tay thầy Nguyễn Trí Viễn - Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu và các thầy cô nghỉ hưu Lễ trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 đợt 2 năm 2010 Ủng hộ Quỹ học bổng của Trường năm học 2009-2010 Giới thiệu Quỹ Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 với giáo viên và học sinh của trường THPT Nguyễn Duy Hiệu Bản ghi nhớ V/v Thực hiện trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2010

Thông tin tài khoản đóng góp

Chủ tài khoản : Phan Tấn Đạt
Số CMND : 200928255
cấp ngày : 01/04/2003
tại : Công an TP Đà Nẵng

Số tài khoản 2000.201.164.156
tại : Ngân hàng Nông nghiệp
        & PTNT TP Đà Nẵng


<<Prev Next>>

Lượt truy cập : 403616
Copyright © 2008 by NDH 1983-1986 All rights Reserved
Design by Phan Anh Hào Email: haopa@gso.gov.vn - COSIS ĐÀ NẴNG