Qũy Học bổng CHS Nguyễn Duy Hiệu - Điện Bàn, khóa 83-86

Hình ảnh hoạt động

Danh sách các lớp khóa 8386
//http://ndh8386.org/forum/index.php

  Tin chi tiết
 
    “Ivy Bridge” đối đầu “Trinity”

Chip nhiều lõi, tiêu thụ ít năng lượng là những mục tiêu nhắm tới cho các dòng vi xử lí x86 dành cho máy tính để bàn và máy tính xách tay, trong khi dòng ARM dành cho các hệ di động đang lấn sân của các đại gia Intel và AMD với sự trợ giúp của Windows 8.

 

Lựa chọn một chiếc máy tính mới vào thời điểm này có thể là công việc không đơn giản do số lượng linh kiện đang tràn ngập và phong phú hơn bao giờ hết. Tuy nhiên điều khiến bạn đau đầu nhất lại nằm ở việc nhận biết đâu là loại vi xử lý (CPU) mình cần. Trong năm 2012, người dùng đã chứng kiến sự ra đời của nhiều nền tảng mới quan trọng từ cả hai nhà sản xuất Intel và AMD cùng sự trỗi dậy từ phía các đại gia ARM trong bối cảnh Windows 8 xuất hiện. Những thông số về lõi xử lý, xung nhịp, loại socket, khối điều khiển tích hợp, đồ hoạ hay những tên mã khó nhớ có thể là trở ngại cho quyết định của bạn. Tuy nhiên, liệu mọi việc có thực sự quá phức tạp? 

 

Intel: Ưu thế vẫn trong tay kẻ mạnh 

Vào thời điểm hiện tại, Intel đang nắm vương miện hiệu năng bộ xử lý – dĩ nhiên là ở mức giá không phải rẻ. Ưu thế về tốc độ hoàn toàn thuộc về các BXL Intel. Trong dải sản phẩm của hãng, dẫn đầu vẫn là các chip Sandy Bridge E 6 lõi. Phiên bản Core i7 3930K cho hiệu năng xử lý tuyệt hảo nhưng với mức giá không hề dễ chịu. Thực tế, việc đầu tư khoản tiền lớn cho chip 3930K không phải là lựa chọn số một bởi nhiều người dùng thường có xu hướng vươn tới các dòng i7 Ivy Bridge mới và dành khoản dư cho RAM, đồ hoạ hoặc ổ SSD. Các dòng chip Ivy Bridge mới với cải tiến về điện năng tiêu thụ và đồ hoạ tích hợp HD 4000 (nhanh hơn Sandy Bridge tới 60% và hỗ trợ DirectX 11) thực sự toả sáng trong môi trường di động với những thế hệ MTXT đầu tiên đưa vào ứng dụng là Apple Macbook Pro hay Toshiba Qosmio X870. Tuy nhiên, trên máy tính để bàn các dòng chip Ivy Bridge thực tế không phải là đột phá lớn – kể cả các mẫu Core i7 3770K (3,5 GHz – 3,9 GHz / 8MB) hay Core i5 3570K (3,4-3,8 GHz/ 6MB) đầu bảng. Lý do là bởi Intel không bổ sung thêm lõi xử lý hay cải thiện xung nhịp/bộ nhớ đệm trên nền tảng mới. Ngoại trừ đồ hoạ cải tiến và một chút ít tối ưu hoá trên từng thành phần chip, Ivy Bridge nhìn chung không có thay đổi lớn. Dù vậy, điều này cũng đem lại một điểm hữu ích: người dùng có thể sử dụng chip Ivy Bridge mới với các bo mạch chủ Intel LGA 1155 của Sandy Bridge (chỉ cần cập nhật BIOS mà thôi). Cùng với chipset và thiết kế mới Z68 B3 hay Z77, một số ích lợi của Ivy Bridge có thể bạn sẽ cần đến như thêm cổng USB 3.0 hay PCI-Express 3.0. Trong khi USB 3.0 đã có từ lâu với các khối điều khiển rời của Renesas hay ASMEDIA, việc được tích hợp thêm trong chip có thể tăng cường số cổng trên bo mạch chủ và  cải thiện chút ít về việc sử dụng (hiệu năng tốt hơn, đơn giản hoá cài đặt). Tuy cũng có thể coi là điểm cộng nhưng thực tế không mang tính thuyết phục cao.

 ARM – không thể xem thường! 

Nhu cầu ngày càng tăng về thiết bị phục vụ môi trường di động và giải trí đã tạo điều kiện cho một nhóm sản phẩm mới ra đời và bùng nổ nhanh chóng trong năm 2012: điện thoại thông minh và máy tính bảng. Chính nhờ điều này, ARM đã trở thành điểm nóng với các thiết kế bộ xử lí di động tiết kiệm điện và hiệu năng tốt. 

Dù ra đời từ thập niên 80 của thế kỉ trước, phải tới vài năm trở lại đây, cái tên ARM mới thực sự gây nhiều sóng gió đối với thị trường sản xuất chip bán dẫn. Tuy nhiên, một thực tế là phần lớn người dùng không trực tiếp biết đến ARM nhưng lại sử dụng các thiết bị số với chip nhóm này rất thường xuyên. Câu hỏi đặt ra là tại sao ARM lại có sức mạnh lớn đến vậy trong khi nó lại khá … bí ẩn đối với người dùng cuối?  

Điều bí ẩn thú vị và cũng là sức mạnh của ARM nằm ở chỗ hãng không trực tiếp bán chip di động thành phẩm mà chủ yếu cung cấp bản quyền sử dụng dưới hai dạng chính: bản quyền sử dụng thông thường và bản quyền sử dụng kiến trúc. Trong đó, nhóm thứ nhất bao gồm những hãng như AMD, Alcatel-Lucent, Apple , Atmel, Broadcom, Cirrus Logic, DEC, Ember, Energy Micro, Freescale, Fujitsu, Huawei, Intel, LG, Marvell, Microsoft, NEC, Nintendo, Nuvoton, Nvidia, NXP (trước đây là Philips Semiconductor), Panasonic, Qualcomm, Renesas, RIM, Samsung, Sharp, Sony, ST-Ericsson, STMicroelectronics, Texas Instruments, Toshiba, Yamaha…  Các công ty này có thể tận dụng những thiết kế lõi xử lý của chính ARM đưa ra thị trường như ARM7, ARM9, ARM11, Cortex-A8, Cortex-A9, Cortex-A15 … để tích hợp vào hệ thống trên chip của riêng mình. Như thế, họ có thể thoải mái tuỳ biến số lõi, bổ sung những thành phần riêng theo nhu cầu của mình như RAM, ROM, đồ hoạ 3D cao cấp, khối quản lý sóng viễn thông, bộ xử lý nội dung HD, xử lý hình ảnh chụp…  Một số ví dụ có thể điểm qua như Nvidia Tegra 1/2/3, ST-Ericsson Nova, Texas Instruments OMAP products, Samsung Hummingbird / Exynos, Apple\"s A4 / A5 / A5X, Freescale i.MX… 

Nhóm thứ hai sở hữu bản quyền sử dụng ở cấp kiến trúc ARM cho phép nhà sản xuất tự thiết kế mới hoàn toàn các dòng sản phẩm chip của riêng mình sử dụng các tập lệnh ARM. Một số sản phẩm nhóm này thực tế đã có vị thế rất cao trên thị trường trong năm qua như Apple A6 (có mặt trong iPhone 5), AppliedMicro X-Gene, Qualcomm Snapdragon / Krait (đình đám với các dòng sản phẩm Android), DEC StrongARM, Marvell (Intel) XScale, Nvidia Denver (đang phát triển)…  Sự linh hoạt trong chính sách của ARM đã cho phép các công nghệ của hãng được ứng dụng ở hầu như mọi thiết bị di động trên thị trường. Các hệ thống SoC nhân ARM là “trái tim” của các hệ thống từ đỉnh cao như iPhone, iPad, Galaxy Tab cho tới những chiếc điện thoại Android “ngon, bổ, rẻ” khác. 








Chip nhiều lõi, tiêu thụ ít năng lượng là những mục tiêu nhắm tới cho các dòng vi xử lí x86 dành cho máy tính để bàn và máy tính xách tay, trong khi dòng ARM dành cho các hệ di động đang lấn sân của các đại gia Intel và AMD với sự trợ giúp của Windows 8.

 

Như thế, nếu người dùng đang sở hữu hệ thống với Sandy Bridge, việc nâng cấp lên Ivy Bridge không phải là lựa chọn thực sự hấp dẫn trong năm 2012. Nền tảng mới Ivy Bridge chỉ thể hiện ưu thế khi xây dựng hệ thống mới bởi thực tế các phiên bản chip này là sự thay thế mới một cách hoàn hảo cho Sandy Bridge ở cùng phân khúc và mức giá. Lựa chọn mua dòng mới để sở hữu các tính năng tiên tiến luôn là hướng đi tốt hơn. Về cơ bản, Intel vẫn phân cấp các dòng chip của mình bằng số lượng lõi, xung nhịp, bộ nhớ tích hợp, đồ hoạ. Trong đó, Core i7 vẫn có bốn lõi với HyperThreading – tạo ra 8 lõi xử lý Logic. Core i5 cũng có bốn lõi vật lý nhưng không được trang bị HyperThreading. Chúng đều có chung đặc tính là bộ nhớ đệm 6MB (đối với i5) hoặc 8MB (với i7) và được phân cấp với nhau với khoảng cách 100 MHz (kể cả ở xung nhịp chuẩn lẫn TurboBoost). 

Người dùng cũng cần lưu ý rằng riêng phiên bản i5-35xx và i7-37xx có hệ thống đồ hoạ với xung nhịp Turbo cao hơn 50MHz (1150 MHz) so với dòng i5-3400. Tương tự như Sandy Bridge, Intel cũng có hai mẫu Ivy Bridge mở khoá cho phép ép xung là i5-3570K và i7-3770K. Do Ivy Bridge cũng bị “kết nối” toàn bộ bus nội bộ lại với nhau nên việc ép xung truyền thống bằng cách tăng bus như trước đây là không thể - mà thay vào đó người dùng chỉ có thể điều chỉnh hệ số nhân. Với các mẫu Core “K”, hệ số nhân có thể đẩy tối đa lên tới 63 – thay vì chỉ giới hạn thấp tối đa thêm 4 bước tăng. Trên thị trường, người dùng cũng có thể gặp các mẫu chip Core với kí hiệu S hoặc T. Cả hai bản này đều có mức điện tiêu thụ thấp hơn tiêu chuẩn nhưng hiệu năng có phần hạn chế do bị cắt giảm. Ví dụ như mẫu i5-3470S có xung nhịp chỉ 2,9 GHz so với mức 3.2 GHz của phiên bản không S. Dù vậy nó có công suất TDP chỉ 65W so với 77W của bản tiêu chuẩn. 

Hiển nhiên, Sandy Bridge cũng là điều hợp lý nếu người dùng muốn tìm kiếm một giải pháp xử lý “ngon bổ rẻ” vào lúc này. Dù rằng thế hệ chịp này không mới nhưng cả về công nghệ và năng lực xử lý vẫn ở mức khá tốt. Ngay cả những mẫu Core i3 (không có Turbo Boost, bộ đệm L3 thấp hơn i5/i7), Pentium G hay thậm chí là Celeron cũng thừa đủ hiệu năng cho các ứng dụng thường nhật.

Chip nhiều lõi, tiêu thụ ít năng lượng là những mục tiêu nhắm tới cho các dòng vi xử lí x86 dành cho máy tính để bàn và máy tính xách tay, trong khi dòng ARM dành cho các hệ di động đang lấn sân của các đại gia Intel và AMD với sự trợ giúp của Windows 8.

AMD: APU cứu vãn cuộc chơi 
Bạn có thắc mắc tại sao Intel có thể chấp nhận tung ra Ivy Bridge với kiến trúc mới nhưng lại chẳng có mấy đột phá so với Sandy Bridge ngay trong 2012. Thực tế hiệu năng phiên bản Core i5 3470 so với Core i5-2400 không chênh lệch nhau nhiều dù chúng thuộc hai thế hệ khác nhau. Câu trả lời nằm ở chỗ Intel hầu như không bị cạnh tranh – đặc biệt ở môi trường máy tính để bàn trong suốt 2012. Bản thân phiên bản vi xử lý FX (Bulldozer) của AMD (ví dụ như FX-8150) đã không tạo được tiếng vang lớn như dự kiến. Ngược lại, nó khiến cộng đồng có phần thất vọng dù có kiến trúc khá “khủng” với 8 lõi xử lý và 2 tỷ transistor - cao gấp đôi các sản phẩm Intel. Trước hết, việc có nhiều lõi như vậy với quy trình sản xuất không mới đã khiến chip AMD tiêu tốn nhiều điện. Thêm vào đó, những thử nghiệm thực tế với tiểu trình đơn trên một lõi xử lý cho thấy Bulldozer có hiệu năng còn thua cả Phenom II trước đây. Điều này khiến cho hiệu năng đa nhiệm cũng không mấy ấn tượng. Dù vậy, với mức giá thấp hơn các sản phẩm Intel, dòng chip này vẫn có chỗ đứng nhất định trên thị trường – đặc biệt là trên các hệ thống với tỉ lệ hiệu năng/giá thành tốt.

Thực tế, những đột phá của AMD đến từ thế hệ chip dòng A thế hệ thứ hai (thường được biết đến với tên gọi Trinity) lần đầu hé lộ hồi tháng 5-2012 và được “tiếp viện” vào tháng 9/2012. Đây cũng được xem là câu trả lời của AMD dành cho Ivy Bridge của Intel – dù có phần hơi chậm trễ. Chip “A” mới này sử dụng lõi Piledriver (phiên bản phát triển lên từ Bulldozer) với đồ hoạ kiến trúc mới nhanh hơn, năng lượng tiêu thụ thấp hơn và socket FM2. Những kết quả đo điểm cho thấy APU (Accelerated Processing Unit) mới cải thiện vượt trội về mặt hiệu năng so với thế hệ cũ và không thua kém các sản phẩm Intel. Nói cách khác, mẫu APU giá 100 USD sẽ có hiệu năng tương tự như chip Intel 100 USD khi so sánh các tác vụ xử lý chung (ví dụ như mẫu A8-3870K được đánh giá gần tương đương với Core i3-2100). Tuy nhiên phần lõi đồ hoạ trên các APU của AMD vẫn được xếp hàng trên do chúng giống với đồ hoạ rời thay vì đồ hoạ tích hợp. Điển hình là Radeon HD 6550D trong A8-3870K khi “sánh đôi” với DDR3-1866 cho hiệu năng ngang với GeForce GT430 – GPU cấp thấp của NVIDIA. Ngoài ra người dùng cũng có thể bổ sung card rời và sử dụng công nghệ Hybrid Crossfire của AMD để kết hợp hiệu năng đạt mức cao hơn.

Dòng sản phẩm A được chia khá rõ ràng gồm A4 lõi kép hướng tới nhu cầu phổ thông, game cơ bản,  A6 /A8 ở tầm trung và A10 lõi tứ cho môi trường hiệu năng cao, đáp ứng nhu cầu đa phương tiện và đồ hoạ 3D. Hiện tại vị trí đầu bảng trong nhóm sản phẩm này đang thuộc về A10-5800K (3,8-4,2 GHz / Radeon 7660D).



Người dùng nên chọn thế nào?


Nếu vấn đề tiền bạc là rào cản lớn nhất, bạn có thể tìm đến các mẫu như Pentium G640. Dù chỉ có 2 lõi xử lý và không có Hyper-Threading, nhưng kiến trúc mới và mức giá khá rẻ của sản phẩm này khiến cho nó trở thành lựa chọn hấp dẫn. Thực tế, Pentium G nói chung dư sức xử lý các tác vụ thông thường hàng ngày. Trong khi đó, việc sử dụng socket 1155 không chỉ đảm bảo bạn luôn có các công nghệ mới nhất của Intel mà còn cho phép việc nâng cấp lên các dòng vi xử lý cao cấp hơn trở nên khả thi một khi rào cản tài chính được gỡ bỏ. Việc kết hợp những mẫu Core i5 như 3450 hay 3470 với card đồ hoạ rời đủ mạnh như GeForce GTX 670 sẽ đảm bảo cho bạn thưởng thức mọi trò chơi hay ứng dụng 3D/phim ở 1080p mượt mà. Dĩ nhiên, nếu đã có sẵn hệ thống tản nhiệt, nguồn điện, bộ nhớ “hùng hậu”, việc sở hữu các mẫu chip K sẽ tạo điều kiện cho bạn gia nhập cuộc chơi ép xung một cách thoải mái. Phân khúc thị trường tầm trung được Intel duy trì bằng các dòng vi xử lý Sandy Bridge, khởi đầu với các mẫu như Core i5-2310. 

Tuy nhiên nếu vẫn kiên trì muốn hướng tới Ivy Bridge, bạn có thể xem xét đầu tư cho những mẫu như Core i5 3570K (với giá không quá đắt). Mẫu này có giá chỉ rẻ bằng một nửa so với i5-3770K. Nếu hiệu năng là tất cả và tiền bạc không phải vấn đề, dĩ nhiên các Sandy Bridge E như Core i7 3930K từ Intel là lựa chọn “khỏi bàn”. Sự hiện diện của 6 lõi xử lý cùng bộ nhớ DDR3 kênh tứ sẽ đảm bảo cho tương lai hệ thống của bạn ít nhất là 3-5 năm tới. Tuy nhiên ở góc độ nào đó, những mẫu chip như thế không phải thứ thông dụng dành cho các hệ thống máy tính để bàn – đặc biệt là khi chúng sánh đôi với các bo mạch chủ LGA2011. Bản thân dòng bo mạch chủ này cũng sẽ khá giới hạn các tuỳ chọn của bạn trong việc chọn lựa linh kiện và sử dụng dù cho hiệu năng cuối cùng vẫn đáng nể.

Trong khi đó, nếu là fan của AMD, bạn hãy thử “khởi động” cuộc chơi với mẫu FX-4100. Dù nó không mới mẻ như sản phẩm Ivy Bridge của Intel hay Trinity của chính AMD nhưng vẫn dư thừa sức mạnh nhờ kiến trúc lõi tứ và xung nhịp gốc lên tới 3,6 GHz.  Tuy nhiên, người dùng cũng cần lưu ý rằng dòng APU hiện nay của AMD đồ hoạ tích hợp sẵn với hiệu năng khá tốt. Điều đó giúp cho chúng trở thành giải pháp lý tưởng cho game thủ mong muốn trải nghiệm các dòng trò chơi mới nhưng lại đang hạn hẹp về tài chính. Ở mức chi phí ngang ngửa CPU FX-4100, bạn có thể chọn APU A6-3670 chẳng hạn. Tuy nhiên với những hệ thống hiệu năng cao, sự kết hợp giữa CPU Core của Intel và đồ hoạ rời vẫn là lựa chọn hiệu quả hơn.

Song song với AMD và Intel, chúng ta cũng không thể không nhắc tới việc sự hiện diện của Windows 8 đã và đang “phức tạp hoá” sân chơi CPU khi lần đầu tiên cho phép ARM lấn sân sang môi trường MTXT và có thể là cả các hệ máy để bàn phổ thông. Tuy nhiên vào thời điểm hiện tại, các hệ thống x86 vẫn đang có vị thế thống trị. Dù vậy, 2013 sẽ là thời điểm mà cuộc chơi ARM nóng lên và những nhà sản xuất x86 truyền thống như Intel hay AMD chắc chắn không ngồi yên để những tên tuổi ARM như Qualcomm, Texas Instruments… chiếm lấy miếng bánh thị phần béo bở của mình. Tất cả vẫn còn ở phía trước.

Các tin mới
Các tin cũ hơn
Tin tức
Thư ngỏ Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Nhân dịp khai giảng năm học 2012-2013 Tin cập nhật về Quỹ học bổng đến 09/2012 Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Đợt 1 năm 2012 Lễ khai giảng năm học 2011-2012 và trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 2 năm 2011 Bài phát biểu của thầy Phạm Tấn Sáu tại buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 1 năm 2011 Một số hình ảnh về buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 25 năm ta về Phát biều khai mạc buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Làm việc với Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu về việc trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2011 Trang thông thông tin của UBND huyện Điện Bàn đã đưa tin về việc thành lập và hoạt động của Quỹ học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu có Hiệu Trưởng mới Bản nhạc "Khúc hoài niệm trường xưa" của Nguyễn Thị Hồng Vy (12G) gửi tặng các bạn Nguyễn Duy Hiệu niên khoá 1983-1986 Danh sách tài trợ Quỹ học bổng Cựu học sinh Nguyễn Duy Hiệu 83-86 vừa mới được bổ nhiệm và bầu các chức vụ lãnh đạo Sinh hoạt chia tay thầy Nguyễn Trí Viễn - Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu và các thầy cô nghỉ hưu Lễ trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 đợt 2 năm 2010 Ủng hộ Quỹ học bổng của Trường năm học 2009-2010 Giới thiệu Quỹ Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 với giáo viên và học sinh của trường THPT Nguyễn Duy Hiệu Bản ghi nhớ V/v Thực hiện trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2010

Thông tin tài khoản đóng góp

Chủ tài khoản : Phan Tấn Đạt
Số CMND : 200928255
cấp ngày : 01/04/2003
tại : Công an TP Đà Nẵng

Số tài khoản 2000.201.164.156
tại : Ngân hàng Nông nghiệp
        & PTNT TP Đà Nẵng


<<Prev Next>>

Lượt truy cập : 437244
Copyright © 2008 by NDH 1983-1986 All rights Reserved
Design by Phan Anh Hào Email: haopa@gso.gov.vn - COSIS ĐÀ NẴNG