Qũy Học bổng CHS Nguyễn Duy Hiệu - Điện Bàn, khóa 83-86

Hình ảnh hoạt động

Danh sách các lớp khóa 8386
//http://ndh8386.org/forum/index.php

  Tin chi tiết
 
    Cây diệp hạ châu (chó đẻ răng cưa) và bệnh gan

Cây diệp hạ châu và bệnh gan

      Tôi nghe nói nước ta có cây diệp hạ châu chữa viêm gan do virut B và các bệnh về gan tốt hơn và rẻ tiền hơn các loại thuốc tây rất nhiều. Xin hướng dẫn cách nhận biết cây diệp hạ châu. Trên thị trường có dược phẩm nào chứa diệp hạ châu bán ở nhà thuốc? Nguyễn Ðình Giáp (Thị xã Hà Ðông) 

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), đến đầu thế kỷ 21 này ước tính có 400 triệu người trên thế giới mang mầm bệnh viêm gan do virut B trong đó 85% số người này (340 triệu người) sống ở Ðông Nam á. Thuốc tây chữa viêm gan do virut B có interferon và lamivudin nhưng nói chung đắt tiền và có ít nhiều tác dụng phụ và gây khó chịu cho người bệnh. Trong khi các cây thuốc chữa bệnh gan và viêm gan do virut B ở Việt Nam như cây diệp hạ châu lại mọc hoang trên khắp mọi miền đất nước. 

Cây diệp hạ châu và bệnh gan

Còn có các tên khác: chó đẻ răng cưa, kiềm cam (loại ngọt), kiềm đắng, rút đất trân châu thảo, lão nha châu, diệp hòe thái. 
Ðặc điểm chung: Diệp hạ châu tên khoa học là phyllanthus, thuộc họ thầu dầu (euphorbiaceae) đắng và ngọt, là loại cỏ sống hàng năm hoặc nhiều năm, gốc hóa gỗ, thân nhẵn có nhiều cành mang lá - mỗi cành trông như một lá kép. Hoa, quả mọc phía dưới lá. Mùa hoa quả: quanh năm. Hoa rất nhỏ, cánh màu trắng. Quả hình cầu nhỏ có 3 khía. Khi già tự nứt vỏ, tung hạt ra. 

Tác dụng dược lý: 

Chữa viêm gan do virut B: Năm 1988 Blumberg và Thiogarajan công bố đã điều trị 37 bệnh nhân viêm gan do virut B bằng diệp hạ châu đắng. Sau 3 ngày dùng thuốc, 22 bệnh nhân đạt kết quả tốt, và chứng minh diệp hạ châu đắng có chất ức chế men polymirase ADN của virut viêm gan B. 

Bệnh viện IV quân đội đã thử nghiệm lâm sàng đề tài Ðiều trị viêm gan B mãn tính với hepaphyl của Xí nghiệp dược phẩm trung ương 25" trên 54 bệnh nhân - do các bác sĩ Nguyễn Thái Thanh, Lê Thế Huệ, Phạm Xuân Phi, Nguyễn Hữu Nhật, Hồ Thị Phương Thảo. Sau 4 tháng theo dõi, kết quả như sau: - Bệnh nhân viêm gan do virut B. Trước điều trị làm xét nghiệm máu có HbsAg (+) sau điều trị bằng hepaphyl HbsAg (-); giảm hoặc mất các triệu chứng lâm sàng của viêm gan B. Phục hồi nhanh chức năng gan. 

- Bệnh nhân viêm gan: sau khi điều trị bằng hepaphyl 15-30 ngày. Xét nghiệm men gan SGOT, SGPT giảm 3 lần so với lúc chưa dùng thuốc. Lượng bilirubin cũng giảm rõ rệt. 

- Bệnh nhân bị mẩn ngứa, mụn nhọt ngoài da cũng khỏi. 
Thành phần của viên hepaphyl có 200mg (0,2g) bột diệp hạ châu đắng và 20mg cồn nghệ. 

Công dụng, cách dùng: 

- Chữa suy gan (do nghiện rượu, sốt rét, ứ mật, lỵ amip, nhiễm độc) 
Diệp hạ châu đắng 10g (Nếu là loại ngọt dùng 20g). Cam thảo đất 20g. Sắc nước uống hàng ngày. 

- Chữa viêm gan do virut B 
Diệp hạ châu đắng 10g, nghệ vàng 5g, sắc nước 3 lần, lần đầu với 3 bát nước lấy 1 bát thuốc. Lần thứ 2 và 3 với 2 bát nước, mỗi lần lấy nửa bát thuốc. Trộn chung rồi thêm 50 gam đường, đun sôi cho tan đường. chia làm 4 lần uống trong ngày - sau 15 ngày dùng thuốc xét nghiệm lại, khi kết quả xét nghiệm máu đạt HbsAg (-) thì thôi dùng thuốc. 

- Chữa xơ gan cổ trướng: 

- Diệp hạ châu đắng 100g sắc nước 4 lần. Lần đầu với 3 bát nước lấy 1 bát thuốc, 3 lần sau mỗi lần sắc với 2 bát nước lấy nửa bát thuốc. Trộn chung rồi thêm 100 gam đường, đun sôi cho tan đường. Chia làm 6 lần uống trong ngày. Khi hết triệu chứng thì thôi dùng thuốc (khoảng 30-40 ngày). 

DS. Trần Xuân Thuyết

Câu
chuyện về cây diệp hạ châu
Tác
giả : BS. QUÁCH TUẤN VINH (Tham khảo tài liệu trên Internet)
Nicole
Maxwell, tác giả cuốn Witch Doctor?s Apprentice, được xuất bản lần đầu tiên vào
năm 1961 trên cơ sở những nghiên cứu được tiến hành từ năm 1950 tại Peru, đã
coi Chanca Piedra như một dược liệu quan trọng nhất để chữa bệnh. Bà Nicole
Maxwell thường xuyên gặp gỡ các pháp sư và những người Ấn Ðộ ở vùng sông
Amazon. Thời gian sau đó, bà được gặp một người Ðức đã từng sử dụng Chanca
Piedra trong chữa bệnh tại Ðức. Ông ta nói rằng có tới 94% bệnh nhân của mình
được hỏi đều cho biết sỏi thận đã hoàn toàn loại trừ sau 1-2 tuần điều trị. Tuy
nhiên vài giờ sau khi loại bỏ được sỏi thận, một vài bệnh nhân đã bị chuột rút.
Những thầy thuốc khác đã phỏng vấn những bệnh nhân được Nicole Maxwell cho sử
dụng Chanca Piedra. Họ đều nói rằng có thể sử dụng vào bất cứ thời gian nào và
không xảy ra tác dụng phụ gì.
CHANCA
PIEDRA LÀ CÂY THUỐC GÌ?
Ðó
chính là cây Phyllanthus ninuri, một cây thuốc cùng họ với cây Phyllanthus
amarus mà dân ta gọi là diệp hạ châu đắng, còn cây diệp hạ châu ngọt được gọi
với tên Phyllanthus urinaria..., cũng đã trở nên quen thuộc với người dân Việt
Nam dưới tên gọi dân dã là chó đẻ răng cưa, hoặc mỹ miều hơn là diệp hạ châu
(ngọc dưới lá).
Những
cây thuốc cùng họ Euphorbiaceae cũng được tìm thấy ở nhiều quốc gia trên thế
giới, và người ta cho rằng đây là một dược thảo phổ biến ở các nước nhiệt đới.
Tại Ấn Ðộ, theo mô tả của các nhà khoa học, cây thuốc này có thể cao từ 30-60cm
và có hoa màu vàng. Ngoài ra còn được tìm thấy ở các nước khác như Trung Quốc
(Phyllanthus urinaria), Cu Ba, Nigeria, Guam, Philippines... Toàn bộ cây được
sử dụng làm thuốc, có tác dụng giảm đau, chữa viêm gan... Các nhà khoa học đã
chứng minh đây là một cây thuốc mang lại nhiều ích lợi cho sức khỏe con người.
NHỮNG
CÔNG DỤNG CỦA CÂY DIỆP HẠ CHÂU
Tại
Pháp, Chanca Piedra còn được sử dụng điều trị sỏi thận, sỏi mật. Sản phẩm của
Chanca Piedra gọi là Pilosuryl, được bán như một thuốc lợi tiểu. Chanca Piedra
có thể sử dụng kéo dài nhằm khôi phục chức năng bình thường của gan và giải độc
cơ thể (do gan có chức năng thải độc, chống độc cho cơ thể). Việc ăn các thức
ăn có nhiều bơ, sữa, thịt, đường, thức ăn nhanh, hóa chất sát trùng, uống nước
tiệt trùng bằng Clo, nước chứa ký sinh trùng, sử dụng thuốc tránh thai ở phụ nữ
trẻ và hormone ở phụ nữ mãn kinh, điều trị bằng các hormone steroid, hóa trị
liệu điều trị ung thư, sử dụng thuốc chữa bệnh tim mạch và ngăn ngừa chống
loãng xương... cũng chính là những nguyên nhân thường gặp gây tổn hại cho gan.
Một
nghiên cứu được tiến hành tại trường Ðại học Dược Santa Catarina (Brazil) vào
năm 1984 về Chanca Piedra đã phát hiện có một alkaloid là phyllan thoside.
Alkaloid này có tác dụng chống co thắt mạnh. Phyllanthoside có tác dụng chống
co thắt cơ vân và cơ trơn, do vậy có thể giải thích được hiệu quả chữa bệnh của
nó trong điều trị sỏi thận, sỏi mật.
Các
nhà nghiên cứu Brazil cũng khám phá tác dụng giảm đau mạnh và bền vững của vài
giống Phyllanthus, bao gồm Phyllanthus niruri. Trong một cuốn sách có tựa đề
"Cats claw, cây leo chữa bệnh" của Peru, tác giả Kenneth Jones đã
dành hẳn một chương mục để nói về Chanca Piedra. Chúng ta biết rằng, morphin là
một thuốc giảm đau gây nghiện cổ điển nhất trên thế giới và indomethacin cũng
là một thuốc chống viêm, giảm đau. Thế nhưng, trong các cuộc thử nghiệm,
Phyllanthus niruri có tác dụng giảm đau mạnh hơn indomethacin gấp 4 lần và mạnh
hơn 3 lần so với morphin!
Tác
dụng giảm đau của Phyllanthus đã được các nhà khoa học Brazil cho là do acid
gallic, ester ethyl và hỗn hợp steroid như beta sitosterol và stigmasterol. Từ
những năm 1960 đã có thông tin nói về Chanca Piedra. Những nghiên cứu của
Brazil và Ấn Ðộ trước hết được áp dụng trên những người bản xứ. Trong một vài
nghiên cứu khác đã được báo cáo, người ta không thấy có sự khác biệt nào của
Phyllanthus niruni và Phyllanthus amarus vì các hoạt chất của 2 cây này là
giống nhau. Trong thực tế, các nhà khoa học cho rằng nó chỉ là một loại cây với
hai tên gọi khác nhau mà thôi. Tác dụng chống co thắt của Chanca Piedra trong
nghiên cứu giữa năm 1980 của các nhà khoa học Brazil đã giải thích tác dụng
điều trị sỏi thận và sỏi bàng quang trong dân gian của cây thuốc này.
Những
Alkaloid của Phyllanthus có tác dụng làm giãn cơ, đặc biệt là đối với cơ quan
bài tiết. Các nhà nghiên cứu phỏng đoán nó có tác dụng làm mòn sỏi ở đường tiết
niệu (thận và bàng quang). Nghiên cứu của Nhật Bản và Ấn Ðộ trong năm 1980 đã
xác định những tác dụng điều trị của Chanca Piedra đối với bệnh gan là do tác
dụng của các hoạt chất phyllanthin, hypophyllathin và triacontanal. Glycoside
được tìm thấy trong Chanca Piedra đã ức chế men Aldose reductase (AR), do các
nhà nghiên cứu Nhật Bản kết luận thông qua một nghiên cứu tiến hành vào những
năm 1988-1989. Còn vào các năm 1994-1995, các nhà khoa học Brazil đã phát hiện
tác dụng giảm đau của Chanca Piedra. Trong một ghi chú đặc biệt, cuối những năm
80, Break Stone đã gây được sự chú ý đối với toàn thế giới về tác dụng chống
virus viêm gan B của cây thuốc này.
Những
thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em với bệnh viêm gan truyền nhiễm bằng một thuốc
chứa Phyllanthus amarus của Ấn Ðộ đã cho kết quả hứa hẹn trong cả Invivo và
Invitro. Nghiên cứu Invitro về sự ức chế virus viêm gan B của Break Stone được
báo cáo tại Ấn Ðộ vào năm 1982. Trong nghiên cứu trên Invivo, Break Stone cũng
đã loại trừ virus gây bệnh viêm gan B ở những động vật có vú trong 3-6 tuần.
Những
nghiên cứu khác tiến hành vào những năm 1990-1995 đã cho thấy Chanca Piedra có
tác dụng chống lại virus viêm gan B.
Chúng
ta cũng biết rằng virus viêm gan B không chỉ tồn tại trong giai đoạn cấp tính
mà còn tồn tại trong cơ thể và có thể tiến tới gây ung thư gan. Các nghiên cứu
cho thấy có tới 90% bệnh nhân bị ung thư gan đã từng mắc bệnh viêm gan virus B
và đây quả là một điều đáng sợ! Phyllanthus niruri và Phyllanthus amatrus đã
cho thấy các dược chất tự nhiên không độc mà nó chứa đựng có tác dụng đối với
virus viêm gan B.
Cây
thuốc này còn có tác động tới cả hệ thống miễn dịch của cơ thể. Khi mà AIDS trở
thành đại dịch nguy hiểm trên thế giới và cho tới nay việc điều trị vẫn còn là
một thách thức đối với khoa học, thì những nghiên cứu gần đây nhất của Break
Stone đã phát hiện tác dụng chống virus HIV của cây thuốc này. Vào năm 1992,
các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã khám phá tác dụng ức chế sự phát triển HIV-1
của Phyllanthus niruri thông qua sự kìm hãm quá trình nhân lên của virus HIV
với cao lỏng của cây thuốc. Trong một nghiên cứu khoa học được tiến hành vào
năm 1996, Viện nghiên cứu Dược học Bristol Myezs Squibb cũng đã chiết xuất được
ít nhất một hoạt chất có tác dụng này và người ta đã đặt tên nó là
"Nuruside".
DIỆP
HẠ CHÂU CÓ ÐỘC TÍNH KHÔNG?
Người
ta không gặp bất cứ độc tính nào ngoại trừ hiện tượng gây chứng chuột rút trong
thời gian sử dụng thuốc. Nếu có hiện tượng chuột rút thì cần giảm 1/2 liều điều
trị, thuốc đảm bảo an toàn ở phụ nữ có thai.


















































Các tin mới
Các tin cũ hơn
Tin tức
Thư ngỏ Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Nhân dịp khai giảng năm học 2012-2013 Tin cập nhật về Quỹ học bổng đến 09/2012 Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Đợt 1 năm 2012 Lễ khai giảng năm học 2011-2012 và trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 2 năm 2011 Bài phát biểu của thầy Phạm Tấn Sáu tại buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 1 năm 2011 Một số hình ảnh về buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 25 năm ta về Phát biều khai mạc buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Làm việc với Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu về việc trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2011 Trang thông thông tin của UBND huyện Điện Bàn đã đưa tin về việc thành lập và hoạt động của Quỹ học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu có Hiệu Trưởng mới Bản nhạc "Khúc hoài niệm trường xưa" của Nguyễn Thị Hồng Vy (12G) gửi tặng các bạn Nguyễn Duy Hiệu niên khoá 1983-1986 Danh sách tài trợ Quỹ học bổng Cựu học sinh Nguyễn Duy Hiệu 83-86 vừa mới được bổ nhiệm và bầu các chức vụ lãnh đạo Sinh hoạt chia tay thầy Nguyễn Trí Viễn - Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu và các thầy cô nghỉ hưu Lễ trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 đợt 2 năm 2010 Ủng hộ Quỹ học bổng của Trường năm học 2009-2010 Giới thiệu Quỹ Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 với giáo viên và học sinh của trường THPT Nguyễn Duy Hiệu Bản ghi nhớ V/v Thực hiện trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2010

Thông tin tài khoản đóng góp

Chủ tài khoản : Phan Tấn Đạt
Số CMND : 200928255
cấp ngày : 01/04/2003
tại : Công an TP Đà Nẵng

Số tài khoản 2000.201.164.156
tại : Ngân hàng Nông nghiệp
        & PTNT TP Đà Nẵng


<<Prev Next>>

Lượt truy cập : 408177
Copyright © 2008 by NDH 1983-1986 All rights Reserved
Design by Phan Anh Hào Email: haopa@gso.gov.vn - COSIS ĐÀ NẴNG