Qũy Học bổng CHS Nguyễn Duy Hiệu - Điện Bàn, khóa 83-86

Hình ảnh hoạt động

Danh sách các lớp khóa 8386
//http://ndh8386.org/forum/index.php

  Tin chi tiết
 
    Cây, Củ, Rau trị bệnh - phan 3

Vị thuốc từ cây mía

Để chữa nứt nẻ chân, lấy ngọn mía và bèo cái mỗi thứ khoảng 100 g, giã nát, thêm vào một bát nước tiểu (trẻ em càng tốt), nấu sôi. Để nước ấm rồi ngâm chỗ nứt nẻ khoảng 30 phút.

Nước mía vị ngọt mát, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, giải độc, tiêu đờm, chống nôn mửa, chữa sốt, tiểu tiện nước đỏ và rất bổ dưỡng. Một số bài thuốc cụ thể:

- Chữa chín mé: Lấy lõi trắng ở ngọn cây mía giã nát, trộn với lòng trắng trứng gà rồi đắp và băng lại.

- Chữa ngộ độc: Thân mía 80 g, thục địa, ý dĩ, cam thảo bắc mỗi thứ 30 g, lá tre, kim ngân, rễ cỏ tranh, rễ ngưu tất mỗi thứ 20 g. Cho vào 1 lít nước, nấu sôi rồi đun lửa nhỏ 15-20 phút, uống nóng hoặc để nguội tùy theo sở thích mỗi người. Cũng có thể chữa ngộ độc bằng cách lấy thân cây mía giã nát cùng với rễ cỏ tranh, ép lấy nước đun sôi trộn với nước dừa mà uống.

- Chữa khí hư: Lá cây mía tím 30 g, lá huyết dụ 30 g, hoa mò đỏ 20 g, rễ mò trắng 80 g. Tất cả các vị trên thái nhỏ, sao vàng rồi sắc lên uống hàng ngày.

- Làm thuốc an thai: Mầm mía 30 g, củ gai 30 g, ích mẫu 20 g, củ gấu 80 g, sa nhân 2 g. Tất cả các vị thái nhỏ, phơi khô sắc với 400 ml nước, còn 100 ml uống trong ngày, chia làm 2 lần.

Lưu ý: Trong bữa ăn có cua thì không nên ăn mật mía, dễ sinh độc.

BS Nguyễn Bích, Sức Khỏe & Đời Sống

 

Rau họ cải chống ung thư ruột kết

Chỉ cần ăn 2-3 bữa các loại rau cải mỗi tuần, bạn có thể an tâm tránh xa căn bệnh ung thư ruột kết. Nguyên nhân là vì trong quá trình chế biến, những loại rau này sản sinh một chất đặc biệt gọi tắt là AITC, có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư.

AITC thực chất là một sản phẩm của quá trình phá vỡ hợp chất sinigrin trong các loại rau họ cải như mù tạc, bắp cải, súp lơ, củ cải Thuỵ Điển, cải xoăn, wassabi... AITC xuất hiện khi cắt, chế biến và tiêu hóa rau. Theo các chuyên gia đến từ Viện nghiên cứu Thực phẩm Anh, ngoài khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư ruột kết, AITC còn có thể ngăn chặn sự xâm lấn của khối u.

Kết quả nghiên cứu được tuyên bố đúng vào thời điểm Quỹ Ung thư Thế giới (WCRF) thông báo kế hoạch triển khai một nghiên cứu quy mô nhất từ trước tới nay về chế độ dinh dưỡng và căn bệnh ung thư. Trong đó, các nhà khoa học trên toàn cầu sẽ được giao nhiệm vụ tìm hiểu hơn 10.000 công trình liên quan, nhằm thiết lập một hướng dẫn tổng hợp, cụ thể và đáng tin cậy về loại thực phẩm nào con người cần ăn để chống ung thư. Nghiên cứu dự kiến sẽ được công bố vào năm 2006.

Cho đến thời điểm này, nội dung nghiên cứu đã được phân bổ về một số viện nghiên cứu và đại học, trong đó các đại học ở Leeds và Bristol (Anh) sẽ chịu trách nhiệm đối chiếu thông tin về các loại ung thư tuyến tuỵ, dạ dày, bàng quang, tuyến tiền liệt và thận. Ở Mỹ, Đại học bang Pennsylvania sẽ tìm hiểu sâu về ung thư miệng và vòm họng, Đại học Johns Hopkins sẽ tập trung nghiên cứu về ung thư phổi và họng trên, Trường Kaiser Permanente sẽ nhận đề tài về ung thư tử cung. Tại Hà Lan sẽ là ung thư ruột kết, trực tràng, gan và túi mật; còn Viện Ung thư Italy sẽ tìm hiểu ung thư vú, buồng trứng và cổ tử cung.

Giáo sư Martin Wiseman, giám đốc dự án và cố vấn khoa học - y tế của WCRF, cho biết: "Bất cứ khi nào xuất hiện một nghiên cứu mới liên quan đến dinh dưỡng và ung thư, chúng sẽ hoặc là đối lập, hoặc là phức tạp hóa các kết quả trước đó. Hậu quả là người dân rất dễ bị rối, nhầm lẫn, thậm chí hoảng loạn. Đó là lý do vì sao cần phải tiến hành một công trình nghiên cứu tổng hợp, nhằm cung cấp những lời khuyên đáng tin cậy nhất dựa trên cơ sở khoa học. Nó sẽ làm sáng tỏ những quan niệm sai lầm và giải toả mọi nghi ngờ về dinh dưỡng và căn bệnh ung thư từ trước tới nay".

Chuối sẽ giảm stress?

Bạn không gầy và ốm đau, song đầu hay bị choáng váng, người luôn mỏi mệt, uể oải và bồn chồn. Đó là những biểu hiện thông thường nhất của chứng bệnh stress trong cuộc sống hiện đại.

Thần kinh căng thẳng cần được chăm sóc và tăng cường bồi bổ. Có rất nhiều loại thực phẩm hỗ trợ cho thần kinh nhưng không gây béo. Vì vậy, việc lựa chọn đúng loại và đúng liều lượng là bí quyết giúp tinh thần luôn sảng khoái.

Thực đơn hoàn thiện

Ăn đủ bữa và đủ chất là yếu tố đầu tiên cần lưu ý. Trong bữa ăn cần có đủ rau, ngũ cốc và hoa quả. Nhóm vitamin B và carbohydrate trong ngũ cốc sẽ giúp cơ thể sản xuất đủ lượng đường glucose, đảm bảo cho cơ thể không bị hạ đường huyết - nguyên nhân số một gây bồn chồn và cáu gắt.

Đối với thần kinh yếu...

Bột mỳ là dưỡng chất an toàn nhất. Người có thần kinh yếu ăn thêm bánh mỳ hoặc các loại bánh quy trong ngày. Nên lưu ý đến những loại rau quả chứa nhiều vitamin và kẽm có tác dụng bồi bổ não như quả bơ, hồng đỏ và xoài, chuối ... Thói quen uống đều đặn chè hà thủ ô cũng giúp tăng cường sức khỏe thần kinh.

Uống nhiều nước

Uống nước lọc vào bất cứ lúc nào có thể. Cố gắng tiếp nhận 2-3 lít nước một ngày. Cần loại bỏ thói quen uống các chất độc hại như cà phê, rượu, chè đen.

Làm nóng cầu chì năng lượng...

Bằng những thực đơn sau:

- Nấu cháo gạo tẻ với sữa 2 lần/tuần.

- Salát hoa quả gồm chuối, dứa.

- Bữa phụ nên ăn lạc rang, hạt điều, hạt dẻ.

Nước sinh tố: 1 quả chuối, 1 thìa nước cốt chanh tươi, 1 thìa lạc rang bóc vỏ, 1 thìa mật ong, 150 mg sữa tươi. Tất cả cho vào xay nhuyễn, uống không hoặc kèm với đá bào. Trong nước sinh tố này, vitamin B6 từ chuối và mật ong sẽ tăng cường năng lượng, sữa giàu canxi và lạc mang lại lecithin. Tất cả đều rất có lợi cho hoạt động của não bộ.

Cây sắn dây chữa bệnh

Củ sắn dây (Đông y gọi là cát căn) vị ngọt cay, tính bình, có tác dụng giải độc, thải nhiệt. Nó được dùng chữa sốt, nhiệt ở miệng, nhức đầu do sốt, khát nước, đi lỵ ra máu. Ngày dùng 8-20 g dưới dạng thuốc sắc.

Một số đơn thuốc có củ sắn dây:

- Chữa cảm mạo sốt cao: Củ sắn dây 8 g, ma hoàng 5 g, quế chi 4 g, đại táo 5 g, thược dược 4 g, sinh khương 5 g, cam thảo 4 g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày.

- Bột rắc những nơi mồ hôi ẩm ngứa: Bột sắn dây 5 g, thiên hoa phấn 5 g, hòa thạch 20 g, trộn đều, tán nhỏ, rắc những nơi ẩm ngứa.

- Chữa trẻ sốt: Củ sắn dây 20 g, thêm 200 ml nước sắc còn 100 ml, cho trẻ uống trong ngày.

- Chữa rắn cắn: Khi bị rắn độc cắn, lấy lá sắn dây tươi giã vắt lấy nước uống, bã đắp lên vết rắn cắn.

BS Ngô Trường Giang, Sức Khoẻ & Đời Sống

Tác dụng chữa bệnh của rau muống

Rau muống có thể thải trừ cholesterol máu và chống tăng huyết áp. Vì vậy, những người bị chứng huyết áp cao, cholesterol máu cao, cơ thể gầy khô nên ăn nhiều loại rau này.

Theo Đông y, rau muống vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng giải độc, thông đại tiểu tiện, chữa táo bón, đái rắt. Dân gian dùng rau muống để phòng và chữa một số chứng bệnh thường gặp:

- Làm mất tác dụng của những thuốc đã uống, giải độc: Rau muống rửa sạch giã nát, vắt lấy nước uống.

- Chữa vết thương, vết mổ sâu rộng: Ăn rau muống hằng ngày kích thích sinh da chóng đầy miệng (những trường hợp có cơ địa sẹo lồi không nên dùng trong thời gian chưa liền sẹo).

- Giảm đường máu: Bệnh nhân tiểu đường nên dùng rau muống thường xuyên.

- Chữa dị ứng bội nhiễm ngoài da: Rau muống tươi một nắm rửa sạch, đun sôi kỹ, để vừa ấm, rửa chỗ thương tổn. Hoặc: Rau muống 30 g, râu ngô 15 g, mã thầy (củ năn) 10 củ. Sắc uống hằng ngày đến khi khỏi.

BS Lưu Mạnh Hùng, Sức Khoẻ & Đời Sống

 

Hành ta, hành tây - thuốc quý của mọi nhà

Để rút kim, gai nằm trong vết thương, lấy hành ta 5 phần, muối 1 phần giã nát, đắp vào vết thương rồi dán băng dính, để qua đêm; gai, kim sẽ ra. Còn để đuổi muỗi, nên cắt đôi vài củ hành tây đặt vào giường, muỗi sẽ không dám bén mảng đến.

Các nhà dược học cho biết, hành chứa chất kháng sinh alixin, có khả năng diệt khuẩn rất mạnh. Trong hành tây còn có chất phytonxit là loại kháng sinh mạnh. Theo Đông y, hành ta vị cay, tính bình, không độc, có khả năng giải cảm, hoạt huyết, dùng làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng, sốt cảm, nhức đầu, mặt phù thũng, làm an thai, sáng mắt, lợi ngũ tạng. Hành còn kích thích thần kinh, làm tăng bài tiết dịch tiêu hóa, phòng ngừa ký sinh trùng đường ruột, trị tê thấp. Dùng ngoài chữa mưng mủ. Nước hành nhỏ mũi giúp chữa ngạt mũi cấp tính, mạn tính, viêm niêm mạc mũi.

Hành tây còn dùng chữa ho, trừ đờm, kích thích tiết mồ hôi, lợi tiểu, chống phù thũng, trị bệnh cổ chướng, tiểu đường, giúp ngủ ngon, làm tiêu nhanh các chất bột, trừ giun đũa, trừ ho, chống béo phì, xơ cứng động mạch, kích dục, chống muỗi, dĩn. Dùng ngoài trị áp xe, chín mé, mụn nhọt, chân nứt nẻ, mụn cóc, đau nửa đầu, đau dây thần kinh ngoại biên. Hành sống có tác dụng mạnh hơn.

Các bài thuốc có hành:

- Cảm cúm, nhức đầu: Lấy hành ta 6-8 củ, gừng sống 10 g, xắt mỏng, đổ vào 1 cốc nước sôi, xông miệng mũi mỗi ngày 2-3 lần. Đồng thời, nên sắc nước gừng và hành để uống (1 ly giữa bữa ăn và 1 ly trước khi đi ngủ).

- Động thai: Hành ta tươi 60 g, sắc uống dần đến khi yên thai thì thôi.

- Nhau thai không ra: Dùng 4-5 củ hành ta, nhai nuốt.

- Tăng huyết áp: Hành tây 2-3 củ xắt lát, trộn đường ăn, hoặc nấu nước uống thường xuyên. Uống 4-5 lần, huyết áp sẽ hạ.

- Trị phong thấp: 3 củ hành tây xắt lát, đổ 1 lít nước, đun 10-15 phút. Ngày uống 2 ly vào sáng và tối lúc bụng đói.

- Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây 1 nắm. Đun nước uống trong ngày.

- Tắc ruột do giun đũa: Lá hành tươi 30 g giã nát, trộn với 30 g dầu vừng (dầu mè). Uống ngày 2-3 lần.

Lương y Minh Chánh, Sức Khoẻ & Đời Sống

Các bài thuốc từ cây ổi

Các bệnh nhân tiểu đường có thể lấy quả ổi 250 g rửa sạch, thái miếng, dùng máy ép lấy nước, chia uống 2 lần trong ngày; hoặc dùng lá ổi khô 15-30 g sắc uống mỗi ngày.

Ổi có tên khoa học là Psidium guajava L., dân gian còn gọi là phan thạch lựu, thu quả, phan nhẫm, bạt tử, lãm bạt, phan quỷ tử... Các nghiên cứu dược lý cho thấy, dịch chiết từ các bộ phận của cây ổi đều có khả năng kháng khuẩn, làm săn se niêm mạc và cầm đi lỏng.

Theo dược học cổ truyền, lá ổi vị đắng, tính ấm, có công dụng tiêu thũng, giải độc, chỉ huyết. Quả ổi vị ngọt hơi chua, tính ấm, có công dụng kiện vị, cố tràng. Các bộ phận của cây ổi thường được dùng để chữa những bệnh như tiết tả (đi lỏng), cửu lỵ (lỵ mạn tính), viêm dạ dày ruột cấp và mạn tính, sang thương xuất huyết, tiêu khát (tiểu đường), băng huyết...

Một số bài thuốc cụ thể:

1. Viêm dạ dày - ruột cấp và mạn tính:

- Lá ổi non sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 6 g, mỗi ngày 2 lần.

- Lá ổi 1 nắm, gừng tươi 6-9 g, muối ăn một ít, tất cả vò nát, sao chín rồi sắc uống.

- Quả ổi, xích địa lợi và quỷ châm thảo, mỗi thứ từ 9-15 g, sắc uống.

2. Lỵ mạn tính:

- Quả ổi khô 2-3 quả, thái phiến, sắc uống.

- Lá ổi tươi 30-60 g sắc uống.

3. Trẻ em tiêu hóa không tốt:

- Lá ổi 30 g, hồng căn thảo (tây thảo) 30 g, hồng trà 10-12 g, gạo tẻ sao thơm 15-30 g, sắc với 1.000 ml nước, cô lại còn 500 ml, cho thêm một chút đường trắng và muối ăn, uống mỗi ngày. Trẻ 1-6 tháng tuổi chỉ uống mỗi ngày 250 ml.

4. Tiêu chảy:

- Búp ổi hoặc vỏ dộp ổi 20 g, búp vối 12 g, búp hoặc nụ sim 12 g, búp chè 12 g, gừng tươi 12 g, rốn chuối tiêu 20 g, hạt cau già 12 g, sắc đặc uống.

- Búp ổi 12 g, vỏ dộp ổi 8 g, gừng tươi 2 g, tô mộc 8 g, sắc với 200 ml nước, cô còn 100 ml. Trẻ 2-5 tuổi mỗi lần uống 5-10 ml, cách 2 giờ uống 1 lần. Người lớn mỗi lần uống 20-30 ml, mỗi ngày 2-3 lần.

- Với tiêu chảy do lạnh, dùng búp ổi sao 12 g, gừng tươi 8 g nướng cháy vỏ, hai thứ sắc cùng 500 ml nước, cô còn 200 ml, chia uống 2 lần trong ngày. Hoặc: Búp ổi hay lá ổi non 20 g, vỏ quýt khô 10 g, gừng tươi 10 g nướng chín, sắc với 1 bát nước, cô còn nửa bát, uống nóng. Cũng có thể lấy búp ổi 60 g, nụ sim 8 g, riềng 20 g, ba thứ sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 g với nước ấm.

- Với tiêu chảy do nóng (thấp nhiệt), dùng vỏ dộp ổi 20 g sao vàng, lá chè tươi 15 g sao vàng, nụ sim 10 g, trần bì 10 g, củ sắn dây 10 g sao vàng, tất cả tán bột, người lớn mỗi lần uống 10 g, trẻ em uống bằng nửa liều người lớn. Hoặc: Vỏ dộp ổi sao vàng 20 g, vỏ duối sao vàng 20 g, vỏ quýt sao vàng 20 g, bông mã đề sao vàng 20 g, sắc đặc uống nóng. Cũng có thể lấy bột vỏ dộp ổi 8 phần, bột gạch non 2 phần, trộn đều, luyện thành viên, mỗi lần uống 10 g, mỗi ngày 2 lần.

- Với tiêu chảy do công năng tỳ vị hư yếu, dùng lá hoặc búp ổi non 20 g, gừng tươi nướng cháy 10 g, ngải cứu khô 40 g, sắc cùng 3 bát nước, cô còn 1 bát, chia uống vài lần trong ngày.

- Với trẻ em đi lỏng, dùng lá ổi tươi 30 g, rau diếp cá 30 g, xa tiền thảo 30 g, sắc kỹ lấy 60 ml, trẻ dưới 1 tuổi uống mỗi lần 10-15 ml, trẻ 1-2 tuổi uống 15-20 ml, mỗi ngày 3 lần.

5. Băng huyết: Quả ổi khô sao cháy tồn tính, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 9 g pha với nước ấm.

6. Đau răng: Vỏ rễ cây ổi sắc với dấm chua, ngậm nhiều lần trong ngày.

7. Thoát giang (sa trực tràng): Lá ổi tươi lượng vừa đủ, sắc kỹ lấy nước ngâm rửa hậu môn. Có thể kết hợp dùng quả ổi khô sắc uống.

8. Mụn nhọt mới phát: Lá ổi non và lá đào lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát rồi đắp lên vùng tổn thương.

Lưu ý: Không dùng ổi cho những người đang bị táo bón.

ThS Hoàng Khánh Toàn, Sức Khoẻ & Đời Sống

Cây hướng dương - vị thuốc quý

Để chữa cao huyết áp, có thể dùng lá hướng dương khô 30 g (hoặc 60 g lá tươi), thổ ngưu tất 30 g, sắc nước uống thay trà trong ngày. Còn với chứng ù tai, mỗi ngày nên dùng vỏ hạt hướng dương 15 g, sắc lấy nước uống.

Hướng dương còn được gọi là hướng dương quỳ tử, thiên quỳ tử, quỳ tử, quỳ hoa tử; tên khoa học Helianthus annuus L. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy, chất phosphatide trong hạt hướng dương có tác dụng dự phòng các chứng cao mỡ máu cấp và tăng cholesterol máu mạn tính. Chất axit Linolenic trong hạt hướng dương có tác dụng chống hình thành huyết khối đối với chuột thí nghiệm.

Theo Đông y, toàn bộ cây hướng dương đều có thể dùng làm thuốc:

- Hạt: Vị ngọt, tính bình, không độc, dùng chữa tinh thần uất ức, thần kinh suy nhược, chán ăn, đau đầu do suy nhược, đi lỵ ra máu, sởi không mọc được.

- Vỏ hạt: Chữa tai ù.

- Hoa: Có tác dụng trừ phong, sáng mắt, dùng chữa đầu choáng váng, mặt sưng phù, thúc sinh cho phụ nữ.

- Khay hạt: Chữa đau đầu, mắt hoa, đau răng, đau dạ dày và bụng, phụ nữ thống kinh, sưng đau lở loét.

- Lá: Tăng cường tiêu hóa và chữa cao huyết áp.

- Lõi thân cành: Chữa tiểu tiện xuất huyết, sỏi đường tiết niệu, tiểu tiện khó.

- Rễ: Chữa đau tức ngực, sườn và vùng thượng vị, thông đại tiểu tiện, mụn nhọt lở loét chảy nước vàng.

Một số bài thuốc:

- Ho gà: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương 15-30 g, giã nát, hãm nước sôi, thêm đường trắng và uống trong ngày.

- Thượng vị đau tức do ăn không tiêu: Dùng rễ cây hoa hướng dương, hạt mùi, tiểu hồi hương mỗi vị 6-10 g, sắc nước uống.

- Kiết lỵ đại tiện xuất huyết: Dùng hạt hướng dương (đã bóc vỏ) 30 g, hãm với nước sôi trong 1 tiếng, pha thêm chút đường phèn uống trong ngày.

 - Đại tiện không thông: Dùng rễ cây hoa hướng dương giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm chút mật ong uống. Mỗi lần uống 15-30 g, ngày uống 2-3 lần.

- Chữa tiểu nhỏ giọt, dương vật đau buốt: Dùng rễ cây hoa hướng dương tươi 30 g sắc với nước uống (chỉ đun sôi một vài phút, không nấu quá lâu sẽ mất tác dụng). Hoặc dùng lõi thân và cành cây hướng dương 15 g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong nhiều ngày.

- Tinh hoàn sưng đau: Dùng rễ cây hoa hướng dương 30 g, sắc với đường đỏ uống.

- Sỏi thận, sỏi đường tiết niệu: Dùng lõi thân cành cây hướng dương một đoạn dài 1 mét, cắt ngắn, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong một tuần.

- Đau bụng kinh: Dùng khay hạt hướng dương 30-60 g, sắc lấy nước, hòa thêm đường đỏ uống trong ngày.

- Viêm tuyến vú: Dùng khay hạt hướng dương bỏ hết hạt, thái nhỏ, sao vàng, tán thành bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 9-15 g, hòa với rượu hoặc nước sôi, sau khi uống lần thứ nhất nếu ra mồ hôi thì mới có kết quả (Trung dược đại từ điển).

- Ung nhọt sưng tấy, lở loét: Dùng khay hạt thiêu tồn tính, nghiền thành bột mịn, hòa với dầu vừng bôi vào chỗ bị bệnh.

- Ngoại thương xuất huyết: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương giã nát, đắp vào chỗ chảy máu.

- Đau răng: Hoa hướng dương phơi hoặc sấy khô, nhồi vào tẩu thuốc lá hoặc nõ điếu cày, hút như thuốc lá hoặc thuốc lào. Hoặc: Dùng khay hạt hướng dương, rễ câu kỷ tử mỗi thứ 10-15 g, luộc với trứng gà, ăn trứng gà và uống nước thuốc.

Lương y Huyên Thảo, Sức Khoẻ & Đời Sống

Các tin mới
Các tin cũ hơn
Tin tức
Thư ngỏ Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Nhân dịp khai giảng năm học 2012-2013 Tin cập nhật về Quỹ học bổng đến 09/2012 Trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 Đợt 1 năm 2012 Lễ khai giảng năm học 2011-2012 và trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 2 năm 2011 Bài phát biểu của thầy Phạm Tấn Sáu tại buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Trao Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 đợt 1 năm 2011 Một số hình ảnh về buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 25 năm ta về Phát biều khai mạc buổi gặp mặt cựu học sinh khóa 83-86 ngày 30-04-2011 Làm việc với Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu về việc trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2011 Trang thông thông tin của UBND huyện Điện Bàn đã đưa tin về việc thành lập và hoạt động của Quỹ học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu có Hiệu Trưởng mới Bản nhạc "Khúc hoài niệm trường xưa" của Nguyễn Thị Hồng Vy (12G) gửi tặng các bạn Nguyễn Duy Hiệu niên khoá 1983-1986 Danh sách tài trợ Quỹ học bổng Cựu học sinh Nguyễn Duy Hiệu 83-86 vừa mới được bổ nhiệm và bầu các chức vụ lãnh đạo Sinh hoạt chia tay thầy Nguyễn Trí Viễn - Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu và các thầy cô nghỉ hưu Lễ trao học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83 – 86 đợt 2 năm 2010 Ủng hộ Quỹ học bổng của Trường năm học 2009-2010 Giới thiệu Quỹ Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 với giáo viên và học sinh của trường THPT Nguyễn Duy Hiệu Bản ghi nhớ V/v Thực hiện trao tặng Học bổng Nguyễn Duy Hiệu 83-86 năm 2010

Thông tin tài khoản đóng góp

Chủ tài khoản : Phan Tấn Đạt
Số CMND : 200928255
cấp ngày : 01/04/2003
tại : Công an TP Đà Nẵng

Số tài khoản 2000.201.164.156
tại : Ngân hàng Nông nghiệp
        & PTNT TP Đà Nẵng


<<Prev Next>>

Lượt truy cập : 408161
Copyright © 2008 by NDH 1983-1986 All rights Reserved
Design by Phan Anh Hào Email: haopa@gso.gov.vn - COSIS ĐÀ NẴNG